Bạn,
Vậy mà mười năm đã trôi qua kể từ biến cố lịch sử 9.11.2001 xảy ra, tôi còn nhớ rõ xem tivi ở nhà cảnh tượng hai tòa nhà Twin Towers ở New York bốc khói, đưa cháu bé 2 tuổi đến nhà bà giữ trẻ xong, thì nghe tin radio cấm toàn bộ máy bay trên đất Mỹ cất cánh. Khi đến sở thì một tòa nhà đã sụp đổ :-(((((
Mười năm sau, Bin Laden đã đền tội. Ở chỗ Twin Towers, một tòa nhà khác đang được xây, với tên là Freedom Tower, sẽ cao 1776 feet, tượng trưng cho năm 1776 là năm nước Mỹ Tuyên cáo Độc Lập.
http://www.telegraph.co.uk/news/worldnews/september-11-attacks/8737101/September-11-Freedom-Tower-continues-to-rise-and-alter-New-Yorks-skyline.html
Tòa nhà này sẽ cao nhất Mỹ Châu (western hemisphere), đứng trên nóc nhà có thể thấy đường cong quả đất!!!
Thắm thoát 10 năm!!! cháu bé bế trên tay ngày nào đã thành một thiếu nữ 12 tuổi, bắt đầu học lớp 7 (Intermediate School), ngày khai trường hôm qua. Cháu ghi danh và được học một lớp "Orchestra Band", chắc sẽ rất vui vì chơi nhạc chung với các bạn cùng trang lứa, trước giờ cháu chỉ lủi thủi học piano một mình.
***
Sáu tuần vừa qua tôi bận quá xá trời, hiện cũng còn đang bận, nhưng vui. Chi nhánh hãng tôi cho 10 người khác và tôi 2 tuần để đi học ngay trong sở, người từ chi nhánh khác của sở tới dạy software mới. Thành ra 2 tuần chỉ có ăn và học, nên học được nhiều thứ mới. Tôi cũng có thời gian tự học chuyên sâu về VB.NET để viết ứng dụng cho software mới này. Sau khi học xong software, thì mỗi nhân viên được dùng 5 tiếng/tuần để dợt lại các thao tác cho khỏi quên, trong khi chờ đợi một project sẽ dùng software mới này. có thể đi làm overtime (OT) thứ Bảy để "dợt"!!! Chơi mà cũng được trả OT, kể cũng zui. Một chi nhánh khác của hãng lại cần tôi chế thêm một tí vào cái software tôi viết mà họ đang dùng, tôi ước tính 60 giờ, họ trả lời OK ngay! Tôi nói tao bận lắm à nha, phải charge OT, nó cũng OK luôn. Không lẽ tôi xách dép mặc tà lỏn vô làm Chủ Nhật luôn????
Mắc cười nhứt là tôi với tên này bút đàm bằng Lotus Notes Sametime, nó không rành tiếng Anh, tôi không biết tiếng Spanish. Hắn viết câu nào cũng phải vô Google Translation trước rồi mới cut-and-paste trả lời cho tôi !!!! Mỗi lần hắn đòi gắn thêm chút xíu vào software, là tôi lại khổ sở "bút đàm" với hắn, trống đánh xuôi kèn thổi ngược, chả hiểu hắn muốn gắn cái gì. Có khi gần 2 tiếng mới hiểu nó muốn gắn làm sao, nếu hắn biết tiếng Anh chỉ cần coi qua email 1 phút là biết ngay rồi ....
Vài dòng đến các bạn, không thôi thì lâu quá không blog lại quên mất một thói quen viết tiếng Việt liên tục trong hai năm. Ở sở cũng gõ gõ, nhưng đa số là tiếng Anh, còn tiếng Việt thì mỗi ngày thỉnh thoảng email "tám" với bà xã tin tức trong ngày, vài dòng thôi để còn có cái cớ viết chữ "Love," ở cuối email. Mà thiệt ra toàn bả email trước không hà, chứ tôi bận lắm tới trưa không biết còn nhớ tới em để mà email hỏi thăm :-)
Chúc bạn một cuối tuần vui vẻ!
Hiển thị các bài đăng có nhãn Linh Tinh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Linh Tinh. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Sáu, 9 tháng 9, 2011
Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2011
Ông Lê Nin ở Nước Nga ...
Bạn,
Xem hình biểu tình (19/6/2011) chợt nhớ đến một câu thơ sáu tám vui vui (hình như là thơ Bút Tre?) đã nghe trước đây:
Ông Lê Nin ở Nước Nga ...
Tại sao lại đứng vườn hoa nước mình?
Cùng lúc, ở Saigon có tượng Đức Thánh Trần thật uy nghi, đáng lẽ ông phải ở chỗ ông Lê Nin mới đúng, thay vì lọt thỏm ở những building xung quanh.
Trộm nghĩ, nếu hông phải là bác Lê Nin mà là Mao Chủ Tịt thì các bác lãnh đạo ở Hanoi nhà mình phen này cũng khó ở, nhỉ?
hoctro ...
Xem hình biểu tình (19/6/2011) chợt nhớ đến một câu thơ sáu tám vui vui (hình như là thơ Bút Tre?) đã nghe trước đây:
Ông Lê Nin ở Nước Nga ...
Tại sao lại đứng vườn hoa nước mình?
Cùng lúc, ở Saigon có tượng Đức Thánh Trần thật uy nghi, đáng lẽ ông phải ở chỗ ông Lê Nin mới đúng, thay vì lọt thỏm ở những building xung quanh.
Trộm nghĩ, nếu hông phải là bác Lê Nin mà là Mao Chủ Tịt thì các bác lãnh đạo ở Hanoi nhà mình phen này cũng khó ở, nhỉ?
hoctro ...
Thứ Ba, 14 tháng 6, 2011
Thiền - Não Bộ - "Ta đã an tâm cho con"
Bạn,
Hôm qua có nhiều duyên may trong sự việc tĩnh tâm của tôi quá, nên tôi muốn dành riêng bài viết ngắn này để viết vài dòng.
Trước tiên, tôi xin trích vài dòng giới thiệu về một vị tổ Thiền, và những câu đối đáp mà tôi lờ mờ không hiểu, thì nay đã "tạm hiểu" thêm một tí.
Ba tôi là người nhắc lại điển tích này trong một cuộc nói chuyện ngắn ngày hôm qua. Tôi khoe với ông tôi mới mua được một quyển sách rất hay do một tiến sĩ y khoa đạt giải Nobel năm 1972 là ông Gerard Edelman http://en.wikipedia.org/wiki/Gerald_Edelman . Quyển sách đó tên là "Wider than the sky", http://books.google.com/books?id=-juZFfTpY5gC&dq=Wider+than+the+Sky&ie=ISO-8859-1&source=gbs_gdata , tôi vừa đọc được vài trang, và hiện đang cho ba tôi mượn để ông xem trước.
Trong chương 2, ông Edelman có khẳng định một câu thật tuyệt vời là "consciousness is a process, not a thing", tạm dịch là : ý thức là một quá trình, không phải là một vật (cụ thể mà ta thấy được.) Thật vậy, khi ta ngủ thì ta đâu có ý thức, chỉ khi nào ta dậy, cũng giống như bật computer lên, thì khi đó ý thức mới nảy sinh - những luồng điện nhỏ chạy lăng xăng trong não. Tắt computer - tức là khi đi ngủ - thì ý thức cũng không còn. Do chỉ là những luồng điện chạy đi lại, trong các dòng "bus" nếu ta tiếp tục dùng các khái niệm trong computer, nên chúng không có chỗ thường trú, không thể nói chúng (ý thức) ở tại khu này hay khu kia trong não, giống như processing chip, memory, hay hard drive (bên computer) được. [Xin nói thêm: khi ngủ thì cũng có điện chạy lăng xăng, nhưng chúng làm ra những giấc mơ, và quá trình (process) này không có ý thức - unconsciousness.]
Trở lại các câu hỏi và đáp giữa hai vị Tổ, tôi đột nhiên "ngộ" là Tổ Đạt Ma đang tìm cách giải nghĩa cho Tổ Huệ Khả điều trên, tức ông muốn nói là cái "tâm" không thể nào tìm thấy được, vì nó chỉ là những dòng điện thôi. Tổ Đạt Ma đã "an" được cái "tâm" của Tổ Huệ Khả vì chứng minh rằng ông đi tìm cái "tâm" là vô ích, vì nó không có thật, không sờ mó được. Trước kia thì tôi hiểu điển tích này theo nghĩa khác, là khi ông này hỏi thì đã thể hiện cái tâm "lành" rồi đó, chứ còn cái "tâm" nào khác đâu mà tìm? Chứ người thường thì đâu có ở không đâu mà phải bận tâm đi tìm cái tâm? Hiểu theo cách này thì thật là nông cạn.
Nhưng thật ra cái tâm - ý thức - không có, mà cũng có, là vì chúng ta phải suy nghĩ hằng ngày, thức dậy là máy đã bật lên rồi. Thành ra suốt ngày lăng xăng vì những ý tưởng, những hành động. Vấn đề là phải "an" cái tâm đó. Bài phỏng vấn dưới đây của đài RFI với Thiền Sư Thích Thông Triệt mà tôi tình cờ đọc được ngày hôm qua thật xúc động vì bài ấy đã liên kết thật khoa học hai niềm đam mê tìm hiểu của tôi - hiểu biết khoa học về não bộ, và tìm hiểu Thiền để tập "an" cái tâm lăng xăng - thành một chủ đề.
Mời bạn cùng xem bài phỏng vấn. Hy vọng sau khi đọc xong bạn sẽ "nói thầm" với bạn những điều dễ dễ thôi, bớt đi những "nói thầm" lăng xăng quá như: phải mua cái nhà cho bự hơn nhà "con kia", mua xe "xịn" hơn thằng cùng sở kia, phải chơi cái smart phone 4G kia để xem web lẹ hơn, để còn tìm ra các thứ hay ho khác để rồi ... lăng xăng tiếp trong một vòng luân hồi khác :-)
****
Những lợi ích của tập thiền dưới ánh sáng của khoa học về bộ não
http://www.viet.rfi.fr/cong-dong/20110608-nhung-loi-ich-cua-tap-thien-duoi-anh-sang-cua-khoa-hoc-ve-bo-nao
Từ nửa cuối thế kỷ XX trở lại đây, có nhiều người trong giới tu hành Phật giáo hướng đến các khoa học về con người, đặc biệt là khoa học về thần kinh não bộ để tìm trong đó những cơ sở thực chứng khách quan của con đường rèn luyện nội tâm. Những phát triển mới trong nghiên cứu khoa học về bộ não và nhất là các kỹ thuật đo lường và chụp ảnh những hoạt động của não cho phép một số nhà tu hành đặt mình vào vị trí đối tượng nghiên cứu của khoa học thần kinh.
Chúng tôi có duyên được gặp Thiền sư Thích Thông Triệt, thiền chủ Thiền viện Tánh không (Hoa Kỳ) nhân dịp ông qua Pháp giảng dậy. Thiền sư Thích Thông Triệt là người đã rất nhiều năm đeo đuổi ước vọng dùng các hiểu biết khoa học để soi sáng quá trình tu tập. Thiền sư là soạn giả cuốn sách « Thiền dưới ánh sáng khoa học », ấn hành năm 2010 (sách được dịch qua Pháp ngữ với tựa đề "Zen sous l'éclairage de la science" và Anh ngữ "Zen in the light of science”).
Cuốn sách này mô tả lại các thực nghiệm với các máy đo điện não đồ và cộng hưởng từ, mà các nhà não học thuộc trường đại học Tubingen (Đức) tiến hành trong vòng 5 năm (2006-2010) trên đối tượng là bản thân Thiền sư và các Thiền sinh theo học kỹ thuật Thiền Tánh Không.
Trước khi ông lên máy bay trở về Hoa Kỳ, chúng tôi có dịp được gặp Thiền sư Thích Thông Triệt tại thiền đường Hội thiền Tánh không Paris (Association Méditation Sùnyatà). Sau đây là những lời giải thích mà Thiền sư đã dành cho chúng tôi về chủ đề này.
RFI : Xin kính chào Thiền sư. Hôm nay có dịp được Thiền sư cho phép gặp mặt và nhận lời nói chuyện với Đài, và qua Đài chuyển tiếng nói đến những thính giả, những người Việt Nam, hoặc những người nghe và hiểu tiếng Việt, để biết được con đường tu hành của đạo Phật dưới sự soi sáng của khoa học thần kinh hiện đại. Cụ thể là tu tập theo pháp môn « Thiền » và những tác động của nó đến đời sống hàng ngày của mình, và để nó giúp mình giải quyết các vấn đề khó khăn, mà nhiều người tự bản thân còn lúng túng chưa biết giải quyết ra sao trước những trở ngại tinh thần, tâm lý, sức khỏe bệnh tật. Theo Thiền sư, pháp môn Thiền có thể đem lại những gì cho những người bình thường bị rơi vào trạng thái như vậy ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Trước hết, chúng tôi cám ơn anh Trọng Thành, đại diện cho Đài phát thanh Quốc tế Pháp đặt câu hỏi. Chúng tôi xin trả lời rằng, Thiền là do Đức Phật Thích Ca, Ngài đã tự tu và tự mình kinh nghiệm được những gì mà Ngài đã khắc khoải trước đó. Sau đó, Ngài đã thành tựu. Ngài dạy lại, và pháp môn Ngài dạy lại đó thực sự là pháp môn tu Thiền. Mà Thiền của Đức Phật nhắm làm sao giúp con người điều chỉnh lại nhận thức của mình. Vì chính nhận thức đó đưa đến cho con người khổ não, trầm luân, hay là giải thoát.
Thành ra, khi hướng dẫn người thực hành Thiền, chúng tôi nhắm khai triển những phần nào mà làm cho con người được hài hòa thân tâm của mình, và phát huy được trí tuệ tâm linh của chính mình. Cho nên phần đó, chúng tôi thường dẫn chứng bằng « Pháp » mà Đức Phật đã thành tựu được. Đó là pháp thở. Từ nơi pháp thở đó, chúng ta có khả năng điều chỉnh lại được sự rối loạn bên trong não bộ của chúng ta. Phần đó sẽ được giải thích hơn, nếu mà người đọc có nhu cầu.
Tìm ra cơ chế để « vọng tưởng » không xuất hiện
RFI : Thưa Thiền sư, Thiền sư có thể giải thích vì sao Thiền sư đã đi tìm những cơ sở khoa học và đặc biệt là cơ sở về bộ não con người để mà phối hợp với các biện pháp trong đạo Phật, do Phật truyền lại ? Vì sao Thiền sư quyết định làm như vậy ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Điều này nói ra nó hơi dài. Nhưng nếu mà em muốn nghe, thì chúng tôi sẽ nói ra. Ngày nay, Thiền thật sự là một môn tu cũ rồi, nhưng mà nó lại trở nên mới. Lý do là, Thiền đã có trên thế gian này hơn 2.500 năm rồi. Tức là sau khi Đức Phật thành đạo, bằng Thiền. Ngài dạy lại các phương pháp của ngài cũng bằng Thiền.
Nhưng mà vì nó khó quá, nên người này chế ra phương pháp này, người kia chế ra phương pháp kia. Mục đích để làm cho tâm mình nó yên lặng thôi. Thành ra, những cái chế đó ấy, các sáng tạo, sáng chế đó làm cho Thiền càng thêm rối bời thêm ra. Mỗi người làm theo ý mình, rốt cuộc nó loạn ra. Có cả triệu (phương pháp), chứ không phải ngàn đâu. Trải qua 25 thế kỷ rồi, người thực hành Thiền rất khó khăn. Đứng trước rừng Thiền, một cánh rừng già dày đặc, muốn vô làm sao vô đây.
Chính bản thân tôi ngày xưa cũng vậy đấy. Chúng tôi đã thất bại khi áp dụng các phương pháp cũ. Đó là người ta giảng sao mình làm theo vậy. Nhưng rồi, có điều bật ra từ trong não chúng tôi, chúng tôi tự giải đáp trong não mình. Tức là đừng có « nói thầm » ! Nói thầm hoài thì « vọng tưởng » có hoài. Vì chủ trương của Thiền là dập tắt vọng tưởng, tức là những ý nghĩ miên man trong đầu khởi lên lên. Người này chế ra cách này, người kia chế ra cách kia để dập tắt vọng tưởng. Chúng tôi làm đủ hết mọi cách, nhưng không làm sao dừng được những sự « nói thầm » trong đầu của chúng tôi. Thực sự lúc đó, chúng tôi không biết đó là sự « nói thầm », chúng tôi cho rằng, đó là « vọng tưởng » thôi. Nhưng rút cục chúng tôi nhận ra rằng : A ! Cái gọi là « vọng tưởng » chính là sự « nói thầm » trong não mình đó. Bây giờ phải làm sao cho yên lặng cái đó đi thì mới được. Từ đó chúng tôi thực tập bằng cách không nói thầm.
RFI : Xin cắt ngang ở đây để Thiền sư giúp giải thích : « nói thầm » thì những biểu hiện ra sao, và tác hại của nó như thế nào ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Khi nói thầm, đó là cơ chế của « tưởng ». Trong não bộ của mình, nó có một cơ chế … Nhưng hồi đó, chúng tôi không biết cơ chế não bộ. Từ trong đầu nó khởi lên cái « niệm ». Nói qua nói lại với nhau. Tức là mình nói qua nói lại với mình về một chuyện gì đó do những hình ảnh trong tâm mình khởi lên. Mình chạy theo hình ảnh đó để mình nói, nói rồi, tâm xúc cảm mình nó đi theo hình ảnh đó. Thành ra nội tâm không bao giờ yên lặng được.
RFI : Cái nói thầm như Thiền sư nói có thể chuyển sang diễn đạt khác là đối thoại bên trong có đúng không ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Đúng rồi, từ chỗ nói thầm ban đầu, rồi đối thoại thầm lặng bên trong không bao giờ dứt. Thành ra, từ chuyện không có gì hết bắt đầu mình vẽ ra, mình sợ hãi, mình phiền muộn, mình giận tức luôn nữa. Nhiều khi « nó » xúi mình giết người ta đi, hay làm những chuyện tầm bậy, tầm bạ. Vì sự đối thoại thầm lặng đó đấy. Khi chúng tôi phát hiện lối đó, chúng tôi áp dụng cách không nói thầm
Kinh nghiệm tu tập trong trại cải tạo
RFI : Thiền sư phát hiện điều này vào thời điểm nào và có phải là trước khi Thiền sư bước vào nghiên cứu não đồ và các cấu trúc não liên quan đến quá trình Thiền ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Đúng rồi, lúc đó là vào năm 1982, khi tôi ở ngoài Bắc, tại trại Thanh Liệt. Chúng tôi phát hiện được rằng : Ồ, cái « niệm » (hay vọng tưởng) mà mình muốn dừng lại đó chính là từ sự nói thầm, khi dừng sự nói thầm thì cái niệm dừng, cái vọng tưởng dừng. Từ đó chúng tôi hiểu rằng không nói thầm thì dẹp tan các vọng tưởng. Từ đó chúng tôi trở nên an tịnh nội tâm được. Từ đó chúng tôi dụng công tu.
Hai năm đầu, từ năm 1975 đến năm 1977, chúng tôi « được » người ta nói là già 80 tuổi, thực sự lúc đó chúng tôi chỉ hơn 40 tuổi thôi. Chúng tôi không biết sao mình già mà mới có hai năm thôi. Rồi, chúng tôi tiếp tục riết cho tới năm 1982, khi chúng tôi ra miền Bắc. Thì chúng tôi nhận ra rằng : sự đối thoại thầm lặng hay sự nói thầm trong não của chúng tôi nó đưa đến thân tâm tàn tạ.
RFI : Lúc đó, có thể nói là Thiền sư đang ở trong trại cải tạo. Phải chăng điều kiện khắc nghiệt và khổ sở, cô lập trong trại như vậy khiến Thiền sư rơi vào trạng thái này ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Không phải, lúc đó chúng tôi ở trong trại cải tạo như vậy, nhưng lúc đó nó là điều kiện thích hợp cho việc tu hành của chúng tôi, vì chúng tôi đâu có tiếp xúc với bên ngoài nữa. Đó là một điều kiện thuận lợi cho việc tu Thiền của mình thôi. Tu Thiền là để dừng vọng tưởng, nhưng lúc đó tôi không biết đấy là gì. Khi mà tôi nhận ra được vọng tưởng là sự nói thầm, điểm mấu chốt, thì chúng tôi thực hành để làm sao làm chủ được sự nói thầm đó. Cho nên chúng tôi nói rằng, cái mà Thiền tông gọi là « diệt vọng » thì không đúng, mà mình phải làm chủ vọng tưởng mới được.
Từ khi chúng tôi áp dụng cách không nói thầm trong não, thì trở nên một cậu thanh niên đẹp, trẻ, mà không phải là ông già 80 nữa. Bằng chứng là khi ông cán bộ đưa chúng tôi về Hà Tây, thì chúng tôi thấy rằng, những người kia như những con khỉ già, hốc hác. Ông cán bộ nói rằng, trong số các anh đây, anh này này ở đây lâu mà sao lại hồng hào. Nghe như thế, chúng tôi nói, à, như thế, chúng tôi thực hành đúng rồi đó. Đúng như thế nào, cái « nước » gì giúp cho tôi, thì thực sự chưa biết được. Nhưng chúng tôi nghĩ rằng, phải có cái chất gì, cái « nước » gì trong đầu chúng tôi tiết ra đó để làm cho tôi được trẻ, trong sáng. Đấy là cái ý tưởng đầu tiên nó ghi trong đầu tôi là như thế.
Hiểu biết khoa học về não giúp cho thời gian tu tập được rút ngắn
RFI : Như thế là, bắt đầu từ cái kinh nghiệm đầu tiên mà Thiền sư cảm nhận được vào thời điểm năm 1982, đấy là khởi điểm mà Thiền sư tiếp tục đi về hướng nghiên cứu về quan hệ giữa bộ não và quá trình Thiền. Thiền sư có thể nói một cách rất đơn giản để thính giả bình thường có thể hiểu được là, nghiên cứu về não tạo điều kiện như thế nào cho việc hiểu về cơ chế của Thiền ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Nếu hiểu biết về cơ chế của não bộ, thì một là mình thực hành mà không sợ sai lạc. Thứ hai là mình đốt được thời gian, thu ngắn được thời gian. Thay vì mình phải thực hành để khắc chế vọng tưởng, hay làm cho vọng tưởng không khởi lên nữa, thì mình không cần. Mình chỉ đi vào cơ chế là : không khởi niệm vọng tưởng nữa.
Trong não bộ cần phân biệt hai vùng. Vùng phía trước và vùng phía sau. Vùng phía sau theo thuật ngữ Thiền gọi là cơ chế của « Tánh giác ». Mình đi vào cơ chế này mà thực hành thì lẹ hơn là vào cơ chế phía trước. Ở phía trước, bên não phải là ý thức, bên trái là ý căn, ý trí năng. Bộ phận đó là thuộc về « tâm đời », tâm của người phàm phu, cứ dính mắc chuyện này, chuyện kia đó.
Chúng tôi nói rằng, cho mày nằm yên đó đi, tao đi vào ngõ này thôi. Chúng tôi « pha » (tức « bỏ qua » – tiếng địa phương Nam Bộ) cái vùng phía trước và đi thẳng vào phía sau. Phía sau là cơ chế của « Tánh giác ». Đi thẳng vào vùng phía sau thì phải biết các đặc tính của nó, chức năng của nó là gì. (Cơ chế đó) là biết mà không có lời nói thầm.
Cho nên bây giờ chúng tôi hướng dẫn Thiền, chúng tôi « pha » (bỏ). Chúng tôi biết rằng chúng ta có cơ chế phía trước như vậy, mà cơ chế này nó dính mắc, do những truyền thống nó ghi sâu đậm trong tâm mình, những day rứt nội tâm của mình nó tiềm tàng trong đó, những đam mê của mình nó tiềm tàng trong đó. Thế thì bây giờ một lúc làm sao mình gạt được những cái tâm đó được. Cho nên chúng tôi nói, thôi (cái vùng phía trước) cứ nằm yên đấy đi, chúng tôi hướng dẫn người thực hành đi thẳng vào cơ chế của « Tánh giác ».
Chúng tôi dạy học trò, nhưng lúc đó chúng tôi dạy nhưng chưa chứng minh được qua chụp hình não bộ. Phải đợi đến năm 2006, chúng tôi mời nhờ các học trò của chúng tôi ở bên Đức, liên lạc với các nhà não học ở bên Đức, hai ông Erb và Sitaram. Cho đến khi chụp hình não bộ được, thì chúng tôi mới biết cụ thể các vùng đó nằm ở đâu. Bây giờ chúng tôi hướng dẫn người thực hành Thiền đi thẳng vào cơ chế phía sau để làm sao làm yên lặng được nội tâm mình, mà mình không mất nhiều thời gian.
Như hôm qua, chúng tôi giảng dạy ở Poitiers, toàn là những người mới không, chưa bao giờ học Thiền. Cho họ vô, họ đi thẳng. Và họ thấy họ điều khiển được trạng thái rối bời của tâm họ. Nên chúng tôi thấy rằng, ngày nay, mình thực hành Thiền không mất nhiều thời gian. Ban đầu cần phải chỉ cho họ biết các vùng cụ thể cái đã. Bởi người ta có kiến thức, nó khác hơn Việt Nam mình. Tại Việt Nam, chúng tôi nghĩ rằng có nhiều người đi học Thiền không có đủ kiến thức khoa học về bộ não.
Trong một cuốn sách, chúng tôi có viết rằng, sau này nếu được, trong một trường trung học tại Việt Nam, ở lớp 10 nên cho học trò học Thiền để có khái niệm, thì thực hành dễ hơn. Lớp 10 thì có kiến thức (…).
RFI : Thưa Thiền sư, vừa rồi Thiền sư có nói đến buổi giảng tại Poitiers, trong vòng có hai ngày, người ta đã có thể có ý thức về chuyện đó rồi ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Người ta làm được, chứ không phải có ý thức. Người ta làm được liền.
RFI : Cụ thể là làm được gì ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Thí dụ chúng tôi dạy họ phương pháp thở, chỉ ở bước 1, bước 2 thôi. Những ý nghĩ trong đầu họ dừng hết tất cả. Chúng tôi hỏi, các vị có nói thầm trong đầu không ? Trả lời không có. Từ đó chúng tôi hướng dẫn họ thêm nữa. Chỉ có hai ngày thôi, chúng tôi hướng dẫn họ về lý thuyết và thực hành, họ làm được, khỏe khoắn, vui vẻ, điều chỉnh được bệnh tâm thể của họ. Thí dụ như, bệnh huyết áp, tim mạch rối loạn.
Các bệnh cao huyết áp, cao máu mỡ và rối loạn nhịp tim
RFI : Thưa Thiền sư, có những bệnh gì, mà trong quá trình Thiền sư giảng dạy, và hướng dẫn những người thực hành theo để có thể chữa được bệnh đó một cách nhanh chóng và hiệu quả?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Bệnh tim mạch, thí dụ như cao máu (cao huyết áp), cao máu mỡ, rối loạn nhịp tim, là nhanh chóng có hiệu quả liền tức khắc. Khi hướng dẫn Thiền, chúng tôi cho họ ghi lên bệnh của mình, nhưng không ghi tên của họ. Khi hết xong đưa cho chúng tôi, chúng tôi xếp loại. Ví dụ như có người bị mất ngủ kinh niên. Tôi mới giải thích, mất ngủ kinh niên là do trung tâm « giữ giờ » trong não bộ nó bị rối loạn. Ví dụ như chúng tôi hướng dẫn một cô nhìn bóng đen để điều chỉnh trung tâm giữ giờ đó. Khi nhìn bóng đen, cái đường con mắt đi vô nó đi ngang qua hạch nhân điều chỉnh việc ngủ thức của mình (tuyến tùng có hai tên gọi là "épiphyse" hay "glande pinéale"). Hạch nhân đó tiết ra chất melatonin.
RFI : Khi nghe Thiền sư mô tả quá trình chữa bệnh như vậy, nghe Thiền sư giống như một bác sĩ tâm lý. Có câu hỏi đặt ra là, giữa phương pháp Thiền theo đạo Phật và phương pháp chữa bệnh tâm lý rất hiện đại như vậy có gì liên hệ với nhau cụ thể là trong trường hợp kể trên ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Phật dạy phương pháp nhìn ánh sáng. Ánh sáng này có thể là đèn hay nắng. Đường đi ánh sáng vô đâu ? Nhìn ánh sáng nắng thì nó vô mắt mình vào võng mạc (rétine), đi theo các đường chéo như hình như cái nón đó, rồi chạy lên đụng tuyến tùng. Tuyến tùng nó mới tiết ra serotonin, hay là melatonin nữa. Từ chất đó mà nó điều chỉnh bệnh mất ngủ hay bệnh trầm cảm. Như vậy, chúng tôi kết hợp với khoa học để đối chiếu lại. À, Phật dậy trong kinh đó, bây giờ hỏi vì sao nó điều chỉnh được ? Đó là nhờ những chất mà chúng tôi gọi là các « nước sinh hóa học ».
RFI : Thiền sư có thể nói về những cái bệnh mà Thiền sư nói là Thiền chữa rất là tốt, ví dụ như các bệnh về mỡ máu, hay bệnh tim mạch, … cụ thể như thế nào ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Phật dậy mình cách thở. Khi thở vô, mũi mình có hai cái que (tức là bộ phận "bulbes olfactifs" hay hành khứu giác). (Thở vô) hai cái que đụng thẳng vô khu dưới đồi của mình, là Hypothalamus. Mà Hypothalamus là trung tâm tâm lý, tình cảm của mình đó. Rối loạn cũng nó, mà an ổn cũng nó, mà thánh thiện cũng nó luôn. Bằng hít thở vô nó đụng vào hai que đó liền, bằng tín hiệu nó đụng vào vùng dưới đồi liền. Đụng vô dưới đồi làm yên lặng nội tâm. Kế bên dưới đồi có trung tâm sợ hãi và điều khiển xúc cảm của mình nữa.
RFI : Cái vùng này tên khoa học là gì ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Amygdala. Nếu tập thở vô như vậy, nó đụng vào thần kinh đối giao cảm. Ở tận cùng của đầu dây thần kinh đối giao cảm thì tiết ra chất acetylcholine. Mà chính cái acetylcholine có vai trò điều khiển tim mạch. Một mặt nữa là thần kinh đối giao cảm khi trở về đụng vào thần kinh sọ não, thì nó đụng vào một hệ thần kinh khác, gọi là thần kinh phế vị, mà phế vị liên hệ đến phổi với nội tạng, hay là cả gan nữa. Nhờ thế mà nó điều chỉnh lại. Thành ra mình hít thở là mình tác động cùng một lúc vào ba hệ thống, đó là hệ thần kinh đối giao cảm, hệ thần kinh phế vị, và cái thứ ba thông qua hệ thần kinh đối giao cảm mà nó đụng được vào acetylcholine. Acetylcholine có ở nhiều nơi lắm. Từ cuống não cũng có, từ Dưới đồi cũng có, từ vùng thân thọ ở hai bên não bầu cũng có nữa. (…) Nhờ như thế mình mới ngừa được sốc ("strok", tức tai biến mạch máu não), điều chỉnh được tim mạch, máu mỡ. Lý do là acetylcholine khắc chế hai chất, đó là các chất (có thể) làm mình bị máu mỡ, là norepinephrine với epinephrine (hay còn gọi là noradrenaline và adrenaline).
RFI : Thiền sư nói như thế nghe như nếu ai đó có ý muốn thực hành phương pháp thiền này thì dường như có khả năng chữa được tất cả mọi bệnh. Nghe có vẻ như trong tầm tay mà không cần phải đi bệnh viện, không cần đến hiệu thuốc ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Đúng vậy, nhưng không phải nó chữa được tất cả mọi bệnh đâu. Bệnh nào ra bệnh đó. Ví dụ như bệnh cần có acetylcholine, thì thở theo lối để làm acetylcholine.
Ngày nay, từ rối loạn não bộ nó dẫn đến nhiều bệnh khác. Ví dụ như bệnh trầm cảm, bệnh mất ký ức. Kể cả bệnh tiểu đường cũng do não bộ rối loạn. Vấn đề thiền là để làm gì ? Là để điều chỉnh hệ thống hoạt động của não bộ. Từ đó chúng tôi đưa ra phương pháp gọi là sự tương tác giữa Tâm – Pháp – Não Bộ đối với Thân Tâm và Trí tuệ Tâm linh của con người.
Hiểu biết về cơ chế của bộ não giúp người tập Thiền tránh được các sai lầm
RFI : Vừa rồi Thiền sư giải thích với các thính giả không biết gì về đạo Phật cả. Đối với những người đã đi xa hơn rồi, bắt đầu bước vào, họ muốn đi cao hơn nhưng họ còn lúng túng giữa các pháp môn khác nhau. Vậy Thiền sư có thể nói để riêng với những người đó được không ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Thực sự cái thiền nó khó, nhưng cũng không khó. Khó là như thế này : khó là vì người thực hành không gặp một người đã kinh nghiệm thiền để hướng dẫn mình. (Nhiều người không có kinh nghiệm) hướng dẫn theo sở ý của họ. Nếu theo như vậy, có thể mắc bệnh tâm thể. Đấy là điều khó. Còn dễ là nếu biết được chức năng của hai vùng não thì mình làm được hết. Mình cô lập vùng phía trước hay là đi vô vùng phía sau. Nhưng nhận ra chức năng của mỗi vùng là làm được. Muốn nhận ra được chức năng của mỗi vùng, phải có người có hiểu biết về não bộ. Ngày nay, có người biết về não bộ (là các nhà khoa học), nhưng họ không « thực hành » được. (…)
RFI : Tức là họ không phải là người sử dụng các hiểu biết tâm linh để tác động vào các vùng mà họ biết về mặt giải phẫu và mặt nghiên cứu, đúng không ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Lấy thí dụ như trong não bộ có một vùng rất hay gọi là vùng Wernicke (Vùng ngôn ngữ : hiểu, đọc, viết và ký ức ngôn ngữ).
RFI : Nó nằm ở đâu ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Nằm ở vùng Dưới não, khoa học gọi là vùng Ngôn ngữ thứ nhất. Nhưng các nhà khoa học đâu có biết cách « thực hành » được vùng đó. Điều đó khó. Còn mình, « người thực hành » thì biết, thực hành được, nhưng không biết chỗ nào để mà chỉ. Thành ra hai cái đó khác nhau.
RFI : Khi mình biết cách sử dụng khu vực này, thì có ý nghĩa gì ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Mình biết để đi cho lẹ, thay vì đi lòng vòng. Đi vùng khác thì cũng được nhưng lâu hơn. Vì sao, vì vùng này liên hệ đến vùng giữa não của mình nữa (vùng Gian não). Điều quan trọng nhất là làm sao điều khiển được cuống dưới đồi.
RFI : Tức là vùng Wernicke điều khiển được vùng Dưới đồi ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Không, nó không điều khiển mà tác động vào thẳng.
RFI : Như vậy, những điều Thiền sư nói có phải liên quan đến một hệ thống mà Thiền sư nói trong nghiên cứu của Thiền sư với các nhà khoa học ở Đức, về hệ thống Viền não ? Phải chăng Thiền sư muốn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của nó trong quá trình tu tập thiền ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Đúng vậy, trong tu thiền, hệ thống Viền não rất quan trọng. Là vì toàn bộ « tâm » của con người nằm trong này.
RFI : Bình thường, mình gọi là « tâm » hay « tinh thần », nếu mà không biết thì không hiểu nó nằm chỗ nào trong cơ thể, nhưng nếu theo Thiền sư và các nhà khoa học cộng tác, sau khi nghiên cứu, có thể chỉ ra vị trí của nó ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Đúng rồi. Nếu không biết chức năng của các bộ phận trong não bộ của mình, mà cứ thực hành thì một ngày nào đó sẽ bị bệnh tâm thể.
RFI : Thiền sư có thể cho một ví dụ để những người đang tập, hay quan tâm đến chuyện này có thể dễ hiểu. Tức là, khi tập thiền sai lạc thì bị mắc những bệnh gì ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Người ta gọi là « tẩu hỏa nhập ma » đó. Thứ nhất là mắc bệnh cao máu, cao máu mỡ, tiểu đường, đó là ba thứ bệnh thông thường nhất mà mình dễ gặp. Rồi lần lần nó lên nữa là bệnh trầm cảm, bệnh mất ký ức.
Do mình thực hành sai lạc. Mình thực hành miên mật, nhưng sai lạc. Thay vì đừng tập trung tư tưởng vào đối tượng, thì mình cứ tập trung. Bên não phải mình sử dụng này, tập trung như vậy là mình tác động vào hệ giao cảm thần kinh. Mà đầu dây của các dây thần kinh giao cảm có tiết ra một chất hóa học là norepinephrine (còn gọi là noradrenaline). Khi chất này được tiết ra rồi thì nó đi theo máu, vô tuyến thượng thận, bắt đầu đến phần ruột thượng thận (phần giữa của tuyến thượng thận/glande médullosurrénale), thì nó tiết ra epinephrine (adrenaline). Nếu hai chất này bị tiết ra mãi mãi, thì một là tim mạch bị rối loạn, đường máu cao, và cuối cùng mất ký ức luôn. Do epinephrine trong tuyến thượng thận nó tiết hoài thì tác động vào vỏ thượng thận thì ra cortisol. Mà cortisol ra hoài thì mất ký ức (trí nhớ). Vì chất này theo máu lên não bó chặt tế bào não vùng ký ức khiến chúng chết. Sự tương tác này chúng tôi gọi là tương tác dây chuyền Tâm – Pháp – Não Bộ đối với Thân Tâm và Trí tuệ tâm linh của con người là như thế.
Điều cơ bản là acetylcholine được tiết ra thì norepinephrine bị dẹp. (…) Khi mình yên lặng được thì hệ đối giao cảm hoạt động, các đầu dây của hệ này sẽ tiết ra acetylcholine (…) giúp cho chúng ta được cân bằng và hài hòa. Cái thuật ngữ của Thiền gọi là hài hòa, chính là mình hài hòa được các chất sinh hóa học trong não bộ của mình.
RFI : Xin cảm tạ Thiền sư đã dành thời gian quý báu của Thiền sư giúp thính giả hiểu biểt hơn về Thiền.
Hôm qua có nhiều duyên may trong sự việc tĩnh tâm của tôi quá, nên tôi muốn dành riêng bài viết ngắn này để viết vài dòng.
Trước tiên, tôi xin trích vài dòng giới thiệu về một vị tổ Thiền, và những câu đối đáp mà tôi lờ mờ không hiểu, thì nay đã "tạm hiểu" thêm một tí.
Huệ Khả , 487-593, là Thiền sư Trung Quốc, vị Tổ thứ hai của Thiền tông, được Bồ-đề-đạt-ma ấn khả. Kế thừa Sư là Tam tổ Tăng Xán.
Theo truyền thuyết thì Sư đến Thiếu Lâm tự năm 40 tuổi tham vấn Bồ-đề-đạt-ma. Ban đầu Bồ-đề-đạt-ma chẳng để ý đến sự hiện diện của Sư, để Sư đứng trong tuyết băng nhiều ngày. Để chứng minh Bồ-đề tâm của mình, Sư tự chặt cánh tay trái dâng Bồ-đề-đạt-ma và sau đó được nhận là môn đệ. Tắc thứ 41 trong Vô môn quan có ghi lại cuộc đàm thoại đầu tiên giữa Bồ-đề-đạt-ma và Huệ Khả.
- Bồ-đề-đạt-ma ngồi nhìn vách tường. Sư dầm tuyết, rút dao tự chặt cánh tay, nói: "Con không an được tâm, xin thầy an tâm cho con."
- Đạt-ma bảo: "Đưa tâm cho ta, ta sẽ an cho."
- Sư đáp: "Con không thấy tâm đâu cả."
- Đạt-ma đáp: "Ta đã an tâm cho con."
Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Hu%E1%BB%87_Kh%E1%BA%A3
Ba tôi là người nhắc lại điển tích này trong một cuộc nói chuyện ngắn ngày hôm qua. Tôi khoe với ông tôi mới mua được một quyển sách rất hay do một tiến sĩ y khoa đạt giải Nobel năm 1972 là ông Gerard Edelman http://en.wikipedia.org/wiki/Gerald_Edelman . Quyển sách đó tên là "Wider than the sky", http://books.google.com/books?id=-juZFfTpY5gC&dq=Wider+than+the+Sky&ie=ISO-8859-1&source=gbs_gdata , tôi vừa đọc được vài trang, và hiện đang cho ba tôi mượn để ông xem trước.
Trong chương 2, ông Edelman có khẳng định một câu thật tuyệt vời là "consciousness is a process, not a thing", tạm dịch là : ý thức là một quá trình, không phải là một vật (cụ thể mà ta thấy được.) Thật vậy, khi ta ngủ thì ta đâu có ý thức, chỉ khi nào ta dậy, cũng giống như bật computer lên, thì khi đó ý thức mới nảy sinh - những luồng điện nhỏ chạy lăng xăng trong não. Tắt computer - tức là khi đi ngủ - thì ý thức cũng không còn. Do chỉ là những luồng điện chạy đi lại, trong các dòng "bus" nếu ta tiếp tục dùng các khái niệm trong computer, nên chúng không có chỗ thường trú, không thể nói chúng (ý thức) ở tại khu này hay khu kia trong não, giống như processing chip, memory, hay hard drive (bên computer) được. [Xin nói thêm: khi ngủ thì cũng có điện chạy lăng xăng, nhưng chúng làm ra những giấc mơ, và quá trình (process) này không có ý thức - unconsciousness.]
Trở lại các câu hỏi và đáp giữa hai vị Tổ, tôi đột nhiên "ngộ" là Tổ Đạt Ma đang tìm cách giải nghĩa cho Tổ Huệ Khả điều trên, tức ông muốn nói là cái "tâm" không thể nào tìm thấy được, vì nó chỉ là những dòng điện thôi. Tổ Đạt Ma đã "an" được cái "tâm" của Tổ Huệ Khả vì chứng minh rằng ông đi tìm cái "tâm" là vô ích, vì nó không có thật, không sờ mó được. Trước kia thì tôi hiểu điển tích này theo nghĩa khác, là khi ông này hỏi thì đã thể hiện cái tâm "lành" rồi đó, chứ còn cái "tâm" nào khác đâu mà tìm? Chứ người thường thì đâu có ở không đâu mà phải bận tâm đi tìm cái tâm? Hiểu theo cách này thì thật là nông cạn.
Nhưng thật ra cái tâm - ý thức - không có, mà cũng có, là vì chúng ta phải suy nghĩ hằng ngày, thức dậy là máy đã bật lên rồi. Thành ra suốt ngày lăng xăng vì những ý tưởng, những hành động. Vấn đề là phải "an" cái tâm đó. Bài phỏng vấn dưới đây của đài RFI với Thiền Sư Thích Thông Triệt mà tôi tình cờ đọc được ngày hôm qua thật xúc động vì bài ấy đã liên kết thật khoa học hai niềm đam mê tìm hiểu của tôi - hiểu biết khoa học về não bộ, và tìm hiểu Thiền để tập "an" cái tâm lăng xăng - thành một chủ đề.
Mời bạn cùng xem bài phỏng vấn. Hy vọng sau khi đọc xong bạn sẽ "nói thầm" với bạn những điều dễ dễ thôi, bớt đi những "nói thầm" lăng xăng quá như: phải mua cái nhà cho bự hơn nhà "con kia", mua xe "xịn" hơn thằng cùng sở kia, phải chơi cái smart phone 4G kia để xem web lẹ hơn, để còn tìm ra các thứ hay ho khác để rồi ... lăng xăng tiếp trong một vòng luân hồi khác :-)
****
Những lợi ích của tập thiền dưới ánh sáng của khoa học về bộ não
http://www.viet.rfi.fr/cong-dong/20110608-nhung-loi-ich-cua-tap-thien-duoi-anh-sang-cua-khoa-hoc-ve-bo-nao
Cuốn sách này mô tả lại các thực nghiệm với các máy đo điện não đồ và cộng hưởng từ, mà các nhà não học thuộc trường đại học Tubingen (Đức) tiến hành trong vòng 5 năm (2006-2010) trên đối tượng là bản thân Thiền sư và các Thiền sinh theo học kỹ thuật Thiền Tánh Không.
RFI : Xin kính chào Thiền sư. Hôm nay có dịp được Thiền sư cho phép gặp mặt và nhận lời nói chuyện với Đài, và qua Đài chuyển tiếng nói đến những thính giả, những người Việt Nam, hoặc những người nghe và hiểu tiếng Việt, để biết được con đường tu hành của đạo Phật dưới sự soi sáng của khoa học thần kinh hiện đại. Cụ thể là tu tập theo pháp môn « Thiền » và những tác động của nó đến đời sống hàng ngày của mình, và để nó giúp mình giải quyết các vấn đề khó khăn, mà nhiều người tự bản thân còn lúng túng chưa biết giải quyết ra sao trước những trở ngại tinh thần, tâm lý, sức khỏe bệnh tật. Theo Thiền sư, pháp môn Thiền có thể đem lại những gì cho những người bình thường bị rơi vào trạng thái như vậy ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Trước hết, chúng tôi cám ơn anh Trọng Thành, đại diện cho Đài phát thanh Quốc tế Pháp đặt câu hỏi. Chúng tôi xin trả lời rằng, Thiền là do Đức Phật Thích Ca, Ngài đã tự tu và tự mình kinh nghiệm được những gì mà Ngài đã khắc khoải trước đó. Sau đó, Ngài đã thành tựu. Ngài dạy lại, và pháp môn Ngài dạy lại đó thực sự là pháp môn tu Thiền. Mà Thiền của Đức Phật nhắm làm sao giúp con người điều chỉnh lại nhận thức của mình. Vì chính nhận thức đó đưa đến cho con người khổ não, trầm luân, hay là giải thoát.
Thành ra, khi hướng dẫn người thực hành Thiền, chúng tôi nhắm khai triển những phần nào mà làm cho con người được hài hòa thân tâm của mình, và phát huy được trí tuệ tâm linh của chính mình. Cho nên phần đó, chúng tôi thường dẫn chứng bằng « Pháp » mà Đức Phật đã thành tựu được. Đó là pháp thở. Từ nơi pháp thở đó, chúng ta có khả năng điều chỉnh lại được sự rối loạn bên trong não bộ của chúng ta. Phần đó sẽ được giải thích hơn, nếu mà người đọc có nhu cầu.
Tìm ra cơ chế để « vọng tưởng » không xuất hiện
RFI : Thưa Thiền sư, Thiền sư có thể giải thích vì sao Thiền sư đã đi tìm những cơ sở khoa học và đặc biệt là cơ sở về bộ não con người để mà phối hợp với các biện pháp trong đạo Phật, do Phật truyền lại ? Vì sao Thiền sư quyết định làm như vậy ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Điều này nói ra nó hơi dài. Nhưng nếu mà em muốn nghe, thì chúng tôi sẽ nói ra. Ngày nay, Thiền thật sự là một môn tu cũ rồi, nhưng mà nó lại trở nên mới. Lý do là, Thiền đã có trên thế gian này hơn 2.500 năm rồi. Tức là sau khi Đức Phật thành đạo, bằng Thiền. Ngài dạy lại các phương pháp của ngài cũng bằng Thiền.
Nhưng mà vì nó khó quá, nên người này chế ra phương pháp này, người kia chế ra phương pháp kia. Mục đích để làm cho tâm mình nó yên lặng thôi. Thành ra, những cái chế đó ấy, các sáng tạo, sáng chế đó làm cho Thiền càng thêm rối bời thêm ra. Mỗi người làm theo ý mình, rốt cuộc nó loạn ra. Có cả triệu (phương pháp), chứ không phải ngàn đâu. Trải qua 25 thế kỷ rồi, người thực hành Thiền rất khó khăn. Đứng trước rừng Thiền, một cánh rừng già dày đặc, muốn vô làm sao vô đây.
Chính bản thân tôi ngày xưa cũng vậy đấy. Chúng tôi đã thất bại khi áp dụng các phương pháp cũ. Đó là người ta giảng sao mình làm theo vậy. Nhưng rồi, có điều bật ra từ trong não chúng tôi, chúng tôi tự giải đáp trong não mình. Tức là đừng có « nói thầm » ! Nói thầm hoài thì « vọng tưởng » có hoài. Vì chủ trương của Thiền là dập tắt vọng tưởng, tức là những ý nghĩ miên man trong đầu khởi lên lên. Người này chế ra cách này, người kia chế ra cách kia để dập tắt vọng tưởng. Chúng tôi làm đủ hết mọi cách, nhưng không làm sao dừng được những sự « nói thầm » trong đầu của chúng tôi. Thực sự lúc đó, chúng tôi không biết đó là sự « nói thầm », chúng tôi cho rằng, đó là « vọng tưởng » thôi. Nhưng rút cục chúng tôi nhận ra rằng : A ! Cái gọi là « vọng tưởng » chính là sự « nói thầm » trong não mình đó. Bây giờ phải làm sao cho yên lặng cái đó đi thì mới được. Từ đó chúng tôi thực tập bằng cách không nói thầm.
RFI : Xin cắt ngang ở đây để Thiền sư giúp giải thích : « nói thầm » thì những biểu hiện ra sao, và tác hại của nó như thế nào ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Khi nói thầm, đó là cơ chế của « tưởng ». Trong não bộ của mình, nó có một cơ chế … Nhưng hồi đó, chúng tôi không biết cơ chế não bộ. Từ trong đầu nó khởi lên cái « niệm ». Nói qua nói lại với nhau. Tức là mình nói qua nói lại với mình về một chuyện gì đó do những hình ảnh trong tâm mình khởi lên. Mình chạy theo hình ảnh đó để mình nói, nói rồi, tâm xúc cảm mình nó đi theo hình ảnh đó. Thành ra nội tâm không bao giờ yên lặng được.
RFI : Cái nói thầm như Thiền sư nói có thể chuyển sang diễn đạt khác là đối thoại bên trong có đúng không ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Đúng rồi, từ chỗ nói thầm ban đầu, rồi đối thoại thầm lặng bên trong không bao giờ dứt. Thành ra, từ chuyện không có gì hết bắt đầu mình vẽ ra, mình sợ hãi, mình phiền muộn, mình giận tức luôn nữa. Nhiều khi « nó » xúi mình giết người ta đi, hay làm những chuyện tầm bậy, tầm bạ. Vì sự đối thoại thầm lặng đó đấy. Khi chúng tôi phát hiện lối đó, chúng tôi áp dụng cách không nói thầm
Kinh nghiệm tu tập trong trại cải tạo
RFI : Thiền sư phát hiện điều này vào thời điểm nào và có phải là trước khi Thiền sư bước vào nghiên cứu não đồ và các cấu trúc não liên quan đến quá trình Thiền ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Đúng rồi, lúc đó là vào năm 1982, khi tôi ở ngoài Bắc, tại trại Thanh Liệt. Chúng tôi phát hiện được rằng : Ồ, cái « niệm » (hay vọng tưởng) mà mình muốn dừng lại đó chính là từ sự nói thầm, khi dừng sự nói thầm thì cái niệm dừng, cái vọng tưởng dừng. Từ đó chúng tôi hiểu rằng không nói thầm thì dẹp tan các vọng tưởng. Từ đó chúng tôi trở nên an tịnh nội tâm được. Từ đó chúng tôi dụng công tu.
Hai năm đầu, từ năm 1975 đến năm 1977, chúng tôi « được » người ta nói là già 80 tuổi, thực sự lúc đó chúng tôi chỉ hơn 40 tuổi thôi. Chúng tôi không biết sao mình già mà mới có hai năm thôi. Rồi, chúng tôi tiếp tục riết cho tới năm 1982, khi chúng tôi ra miền Bắc. Thì chúng tôi nhận ra rằng : sự đối thoại thầm lặng hay sự nói thầm trong não của chúng tôi nó đưa đến thân tâm tàn tạ.
RFI : Lúc đó, có thể nói là Thiền sư đang ở trong trại cải tạo. Phải chăng điều kiện khắc nghiệt và khổ sở, cô lập trong trại như vậy khiến Thiền sư rơi vào trạng thái này ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Không phải, lúc đó chúng tôi ở trong trại cải tạo như vậy, nhưng lúc đó nó là điều kiện thích hợp cho việc tu hành của chúng tôi, vì chúng tôi đâu có tiếp xúc với bên ngoài nữa. Đó là một điều kiện thuận lợi cho việc tu Thiền của mình thôi. Tu Thiền là để dừng vọng tưởng, nhưng lúc đó tôi không biết đấy là gì. Khi mà tôi nhận ra được vọng tưởng là sự nói thầm, điểm mấu chốt, thì chúng tôi thực hành để làm sao làm chủ được sự nói thầm đó. Cho nên chúng tôi nói rằng, cái mà Thiền tông gọi là « diệt vọng » thì không đúng, mà mình phải làm chủ vọng tưởng mới được.
Từ khi chúng tôi áp dụng cách không nói thầm trong não, thì trở nên một cậu thanh niên đẹp, trẻ, mà không phải là ông già 80 nữa. Bằng chứng là khi ông cán bộ đưa chúng tôi về Hà Tây, thì chúng tôi thấy rằng, những người kia như những con khỉ già, hốc hác. Ông cán bộ nói rằng, trong số các anh đây, anh này này ở đây lâu mà sao lại hồng hào. Nghe như thế, chúng tôi nói, à, như thế, chúng tôi thực hành đúng rồi đó. Đúng như thế nào, cái « nước » gì giúp cho tôi, thì thực sự chưa biết được. Nhưng chúng tôi nghĩ rằng, phải có cái chất gì, cái « nước » gì trong đầu chúng tôi tiết ra đó để làm cho tôi được trẻ, trong sáng. Đấy là cái ý tưởng đầu tiên nó ghi trong đầu tôi là như thế.
Hiểu biết khoa học về não giúp cho thời gian tu tập được rút ngắn
RFI : Như thế là, bắt đầu từ cái kinh nghiệm đầu tiên mà Thiền sư cảm nhận được vào thời điểm năm 1982, đấy là khởi điểm mà Thiền sư tiếp tục đi về hướng nghiên cứu về quan hệ giữa bộ não và quá trình Thiền. Thiền sư có thể nói một cách rất đơn giản để thính giả bình thường có thể hiểu được là, nghiên cứu về não tạo điều kiện như thế nào cho việc hiểu về cơ chế của Thiền ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Nếu hiểu biết về cơ chế của não bộ, thì một là mình thực hành mà không sợ sai lạc. Thứ hai là mình đốt được thời gian, thu ngắn được thời gian. Thay vì mình phải thực hành để khắc chế vọng tưởng, hay làm cho vọng tưởng không khởi lên nữa, thì mình không cần. Mình chỉ đi vào cơ chế là : không khởi niệm vọng tưởng nữa.
Trong não bộ cần phân biệt hai vùng. Vùng phía trước và vùng phía sau. Vùng phía sau theo thuật ngữ Thiền gọi là cơ chế của « Tánh giác ». Mình đi vào cơ chế này mà thực hành thì lẹ hơn là vào cơ chế phía trước. Ở phía trước, bên não phải là ý thức, bên trái là ý căn, ý trí năng. Bộ phận đó là thuộc về « tâm đời », tâm của người phàm phu, cứ dính mắc chuyện này, chuyện kia đó.
Chúng tôi nói rằng, cho mày nằm yên đó đi, tao đi vào ngõ này thôi. Chúng tôi « pha » (tức « bỏ qua » – tiếng địa phương Nam Bộ) cái vùng phía trước và đi thẳng vào phía sau. Phía sau là cơ chế của « Tánh giác ». Đi thẳng vào vùng phía sau thì phải biết các đặc tính của nó, chức năng của nó là gì. (Cơ chế đó) là biết mà không có lời nói thầm.
Cho nên bây giờ chúng tôi hướng dẫn Thiền, chúng tôi « pha » (bỏ). Chúng tôi biết rằng chúng ta có cơ chế phía trước như vậy, mà cơ chế này nó dính mắc, do những truyền thống nó ghi sâu đậm trong tâm mình, những day rứt nội tâm của mình nó tiềm tàng trong đó, những đam mê của mình nó tiềm tàng trong đó. Thế thì bây giờ một lúc làm sao mình gạt được những cái tâm đó được. Cho nên chúng tôi nói, thôi (cái vùng phía trước) cứ nằm yên đấy đi, chúng tôi hướng dẫn người thực hành đi thẳng vào cơ chế của « Tánh giác ».
Chúng tôi dạy học trò, nhưng lúc đó chúng tôi dạy nhưng chưa chứng minh được qua chụp hình não bộ. Phải đợi đến năm 2006, chúng tôi mời nhờ các học trò của chúng tôi ở bên Đức, liên lạc với các nhà não học ở bên Đức, hai ông Erb và Sitaram. Cho đến khi chụp hình não bộ được, thì chúng tôi mới biết cụ thể các vùng đó nằm ở đâu. Bây giờ chúng tôi hướng dẫn người thực hành Thiền đi thẳng vào cơ chế phía sau để làm sao làm yên lặng được nội tâm mình, mà mình không mất nhiều thời gian.
Như hôm qua, chúng tôi giảng dạy ở Poitiers, toàn là những người mới không, chưa bao giờ học Thiền. Cho họ vô, họ đi thẳng. Và họ thấy họ điều khiển được trạng thái rối bời của tâm họ. Nên chúng tôi thấy rằng, ngày nay, mình thực hành Thiền không mất nhiều thời gian. Ban đầu cần phải chỉ cho họ biết các vùng cụ thể cái đã. Bởi người ta có kiến thức, nó khác hơn Việt Nam mình. Tại Việt Nam, chúng tôi nghĩ rằng có nhiều người đi học Thiền không có đủ kiến thức khoa học về bộ não.
Trong một cuốn sách, chúng tôi có viết rằng, sau này nếu được, trong một trường trung học tại Việt Nam, ở lớp 10 nên cho học trò học Thiền để có khái niệm, thì thực hành dễ hơn. Lớp 10 thì có kiến thức (…).
RFI : Thưa Thiền sư, vừa rồi Thiền sư có nói đến buổi giảng tại Poitiers, trong vòng có hai ngày, người ta đã có thể có ý thức về chuyện đó rồi ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Người ta làm được, chứ không phải có ý thức. Người ta làm được liền.
RFI : Cụ thể là làm được gì ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Thí dụ chúng tôi dạy họ phương pháp thở, chỉ ở bước 1, bước 2 thôi. Những ý nghĩ trong đầu họ dừng hết tất cả. Chúng tôi hỏi, các vị có nói thầm trong đầu không ? Trả lời không có. Từ đó chúng tôi hướng dẫn họ thêm nữa. Chỉ có hai ngày thôi, chúng tôi hướng dẫn họ về lý thuyết và thực hành, họ làm được, khỏe khoắn, vui vẻ, điều chỉnh được bệnh tâm thể của họ. Thí dụ như, bệnh huyết áp, tim mạch rối loạn.
Các bệnh cao huyết áp, cao máu mỡ và rối loạn nhịp tim
RFI : Thưa Thiền sư, có những bệnh gì, mà trong quá trình Thiền sư giảng dạy, và hướng dẫn những người thực hành theo để có thể chữa được bệnh đó một cách nhanh chóng và hiệu quả?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Bệnh tim mạch, thí dụ như cao máu (cao huyết áp), cao máu mỡ, rối loạn nhịp tim, là nhanh chóng có hiệu quả liền tức khắc. Khi hướng dẫn Thiền, chúng tôi cho họ ghi lên bệnh của mình, nhưng không ghi tên của họ. Khi hết xong đưa cho chúng tôi, chúng tôi xếp loại. Ví dụ như có người bị mất ngủ kinh niên. Tôi mới giải thích, mất ngủ kinh niên là do trung tâm « giữ giờ » trong não bộ nó bị rối loạn. Ví dụ như chúng tôi hướng dẫn một cô nhìn bóng đen để điều chỉnh trung tâm giữ giờ đó. Khi nhìn bóng đen, cái đường con mắt đi vô nó đi ngang qua hạch nhân điều chỉnh việc ngủ thức của mình (tuyến tùng có hai tên gọi là "épiphyse" hay "glande pinéale"). Hạch nhân đó tiết ra chất melatonin.
RFI : Khi nghe Thiền sư mô tả quá trình chữa bệnh như vậy, nghe Thiền sư giống như một bác sĩ tâm lý. Có câu hỏi đặt ra là, giữa phương pháp Thiền theo đạo Phật và phương pháp chữa bệnh tâm lý rất hiện đại như vậy có gì liên hệ với nhau cụ thể là trong trường hợp kể trên ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Phật dạy phương pháp nhìn ánh sáng. Ánh sáng này có thể là đèn hay nắng. Đường đi ánh sáng vô đâu ? Nhìn ánh sáng nắng thì nó vô mắt mình vào võng mạc (rétine), đi theo các đường chéo như hình như cái nón đó, rồi chạy lên đụng tuyến tùng. Tuyến tùng nó mới tiết ra serotonin, hay là melatonin nữa. Từ chất đó mà nó điều chỉnh bệnh mất ngủ hay bệnh trầm cảm. Như vậy, chúng tôi kết hợp với khoa học để đối chiếu lại. À, Phật dậy trong kinh đó, bây giờ hỏi vì sao nó điều chỉnh được ? Đó là nhờ những chất mà chúng tôi gọi là các « nước sinh hóa học ».
RFI : Thiền sư có thể nói về những cái bệnh mà Thiền sư nói là Thiền chữa rất là tốt, ví dụ như các bệnh về mỡ máu, hay bệnh tim mạch, … cụ thể như thế nào ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Phật dậy mình cách thở. Khi thở vô, mũi mình có hai cái que (tức là bộ phận "bulbes olfactifs" hay hành khứu giác). (Thở vô) hai cái que đụng thẳng vô khu dưới đồi của mình, là Hypothalamus. Mà Hypothalamus là trung tâm tâm lý, tình cảm của mình đó. Rối loạn cũng nó, mà an ổn cũng nó, mà thánh thiện cũng nó luôn. Bằng hít thở vô nó đụng vào hai que đó liền, bằng tín hiệu nó đụng vào vùng dưới đồi liền. Đụng vô dưới đồi làm yên lặng nội tâm. Kế bên dưới đồi có trung tâm sợ hãi và điều khiển xúc cảm của mình nữa.
RFI : Cái vùng này tên khoa học là gì ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Amygdala. Nếu tập thở vô như vậy, nó đụng vào thần kinh đối giao cảm. Ở tận cùng của đầu dây thần kinh đối giao cảm thì tiết ra chất acetylcholine. Mà chính cái acetylcholine có vai trò điều khiển tim mạch. Một mặt nữa là thần kinh đối giao cảm khi trở về đụng vào thần kinh sọ não, thì nó đụng vào một hệ thần kinh khác, gọi là thần kinh phế vị, mà phế vị liên hệ đến phổi với nội tạng, hay là cả gan nữa. Nhờ thế mà nó điều chỉnh lại. Thành ra mình hít thở là mình tác động cùng một lúc vào ba hệ thống, đó là hệ thần kinh đối giao cảm, hệ thần kinh phế vị, và cái thứ ba thông qua hệ thần kinh đối giao cảm mà nó đụng được vào acetylcholine. Acetylcholine có ở nhiều nơi lắm. Từ cuống não cũng có, từ Dưới đồi cũng có, từ vùng thân thọ ở hai bên não bầu cũng có nữa. (…) Nhờ như thế mình mới ngừa được sốc ("strok", tức tai biến mạch máu não), điều chỉnh được tim mạch, máu mỡ. Lý do là acetylcholine khắc chế hai chất, đó là các chất (có thể) làm mình bị máu mỡ, là norepinephrine với epinephrine (hay còn gọi là noradrenaline và adrenaline).
RFI : Thiền sư nói như thế nghe như nếu ai đó có ý muốn thực hành phương pháp thiền này thì dường như có khả năng chữa được tất cả mọi bệnh. Nghe có vẻ như trong tầm tay mà không cần phải đi bệnh viện, không cần đến hiệu thuốc ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Đúng vậy, nhưng không phải nó chữa được tất cả mọi bệnh đâu. Bệnh nào ra bệnh đó. Ví dụ như bệnh cần có acetylcholine, thì thở theo lối để làm acetylcholine.
Ngày nay, từ rối loạn não bộ nó dẫn đến nhiều bệnh khác. Ví dụ như bệnh trầm cảm, bệnh mất ký ức. Kể cả bệnh tiểu đường cũng do não bộ rối loạn. Vấn đề thiền là để làm gì ? Là để điều chỉnh hệ thống hoạt động của não bộ. Từ đó chúng tôi đưa ra phương pháp gọi là sự tương tác giữa Tâm – Pháp – Não Bộ đối với Thân Tâm và Trí tuệ Tâm linh của con người.
Hiểu biết về cơ chế của bộ não giúp người tập Thiền tránh được các sai lầm
RFI : Vừa rồi Thiền sư giải thích với các thính giả không biết gì về đạo Phật cả. Đối với những người đã đi xa hơn rồi, bắt đầu bước vào, họ muốn đi cao hơn nhưng họ còn lúng túng giữa các pháp môn khác nhau. Vậy Thiền sư có thể nói để riêng với những người đó được không ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Thực sự cái thiền nó khó, nhưng cũng không khó. Khó là như thế này : khó là vì người thực hành không gặp một người đã kinh nghiệm thiền để hướng dẫn mình. (Nhiều người không có kinh nghiệm) hướng dẫn theo sở ý của họ. Nếu theo như vậy, có thể mắc bệnh tâm thể. Đấy là điều khó. Còn dễ là nếu biết được chức năng của hai vùng não thì mình làm được hết. Mình cô lập vùng phía trước hay là đi vô vùng phía sau. Nhưng nhận ra chức năng của mỗi vùng là làm được. Muốn nhận ra được chức năng của mỗi vùng, phải có người có hiểu biết về não bộ. Ngày nay, có người biết về não bộ (là các nhà khoa học), nhưng họ không « thực hành » được. (…)
RFI : Tức là họ không phải là người sử dụng các hiểu biết tâm linh để tác động vào các vùng mà họ biết về mặt giải phẫu và mặt nghiên cứu, đúng không ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Lấy thí dụ như trong não bộ có một vùng rất hay gọi là vùng Wernicke (Vùng ngôn ngữ : hiểu, đọc, viết và ký ức ngôn ngữ).
RFI : Nó nằm ở đâu ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Nằm ở vùng Dưới não, khoa học gọi là vùng Ngôn ngữ thứ nhất. Nhưng các nhà khoa học đâu có biết cách « thực hành » được vùng đó. Điều đó khó. Còn mình, « người thực hành » thì biết, thực hành được, nhưng không biết chỗ nào để mà chỉ. Thành ra hai cái đó khác nhau.
RFI : Khi mình biết cách sử dụng khu vực này, thì có ý nghĩa gì ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Mình biết để đi cho lẹ, thay vì đi lòng vòng. Đi vùng khác thì cũng được nhưng lâu hơn. Vì sao, vì vùng này liên hệ đến vùng giữa não của mình nữa (vùng Gian não). Điều quan trọng nhất là làm sao điều khiển được cuống dưới đồi.
RFI : Tức là vùng Wernicke điều khiển được vùng Dưới đồi ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Không, nó không điều khiển mà tác động vào thẳng.
RFI : Như vậy, những điều Thiền sư nói có phải liên quan đến một hệ thống mà Thiền sư nói trong nghiên cứu của Thiền sư với các nhà khoa học ở Đức, về hệ thống Viền não ? Phải chăng Thiền sư muốn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của nó trong quá trình tu tập thiền ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Đúng vậy, trong tu thiền, hệ thống Viền não rất quan trọng. Là vì toàn bộ « tâm » của con người nằm trong này.
RFI : Bình thường, mình gọi là « tâm » hay « tinh thần », nếu mà không biết thì không hiểu nó nằm chỗ nào trong cơ thể, nhưng nếu theo Thiền sư và các nhà khoa học cộng tác, sau khi nghiên cứu, có thể chỉ ra vị trí của nó ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Đúng rồi. Nếu không biết chức năng của các bộ phận trong não bộ của mình, mà cứ thực hành thì một ngày nào đó sẽ bị bệnh tâm thể.
RFI : Thiền sư có thể cho một ví dụ để những người đang tập, hay quan tâm đến chuyện này có thể dễ hiểu. Tức là, khi tập thiền sai lạc thì bị mắc những bệnh gì ?
Thiền sư Thích Thông Triệt : Người ta gọi là « tẩu hỏa nhập ma » đó. Thứ nhất là mắc bệnh cao máu, cao máu mỡ, tiểu đường, đó là ba thứ bệnh thông thường nhất mà mình dễ gặp. Rồi lần lần nó lên nữa là bệnh trầm cảm, bệnh mất ký ức.
Do mình thực hành sai lạc. Mình thực hành miên mật, nhưng sai lạc. Thay vì đừng tập trung tư tưởng vào đối tượng, thì mình cứ tập trung. Bên não phải mình sử dụng này, tập trung như vậy là mình tác động vào hệ giao cảm thần kinh. Mà đầu dây của các dây thần kinh giao cảm có tiết ra một chất hóa học là norepinephrine (còn gọi là noradrenaline). Khi chất này được tiết ra rồi thì nó đi theo máu, vô tuyến thượng thận, bắt đầu đến phần ruột thượng thận (phần giữa của tuyến thượng thận/glande médullosurrénale), thì nó tiết ra epinephrine (adrenaline). Nếu hai chất này bị tiết ra mãi mãi, thì một là tim mạch bị rối loạn, đường máu cao, và cuối cùng mất ký ức luôn. Do epinephrine trong tuyến thượng thận nó tiết hoài thì tác động vào vỏ thượng thận thì ra cortisol. Mà cortisol ra hoài thì mất ký ức (trí nhớ). Vì chất này theo máu lên não bó chặt tế bào não vùng ký ức khiến chúng chết. Sự tương tác này chúng tôi gọi là tương tác dây chuyền Tâm – Pháp – Não Bộ đối với Thân Tâm và Trí tuệ tâm linh của con người là như thế.
Điều cơ bản là acetylcholine được tiết ra thì norepinephrine bị dẹp. (…) Khi mình yên lặng được thì hệ đối giao cảm hoạt động, các đầu dây của hệ này sẽ tiết ra acetylcholine (…) giúp cho chúng ta được cân bằng và hài hòa. Cái thuật ngữ của Thiền gọi là hài hòa, chính là mình hài hòa được các chất sinh hóa học trong não bộ của mình.
RFI : Xin cảm tạ Thiền sư đã dành thời gian quý báu của Thiền sư giúp thính giả hiểu biểt hơn về Thiền.
Thứ Năm, 10 tháng 2, 2011
Ticket To Ride
Bạn,
Trong bài viết ngắn này, để đáp lại thịnh tình và lời yêu cầu của bạn Leaqua, tôi viết vài dòng về nhạc phẩm Ticket To Ride, do hai nhạc sĩ John Lennon và Paul McCartney đồng sáng tác.
Trong trang nhà của Wikipedia, bản tiếng Anh, bạn sẽ tìm thấy đầy đủ mọi chi tiết về bản nhạc này http://en.wikipedia.org/wiki/Ticket_to_Ride . Trước đó tôi đã đọc các chi tiết có liên quan đến bài nhạc này trong bộ sưu tập sách Beatles của tôi, sáng nay đọc wikipedia thì thấy những thông tin trong ấy rất tin cậy.
Bản này được phát hành trước dưới dạng single, mặt A là bài này, mặt B là bài Yes It Is. Ticket To Ride chiếm hạng #1 Billboard ngày 22 tháng 5 năm 1965.
Theo Ian McDonald trong quyển Revolution in the Head thì John Lennon là người viết chính, còn McCartney là người viết phụ. Thường thì bạn thấy trong ban Beatles nếu ai hát bài nào tức nhiên người đó là người viết. Đó là vì họ rất coi trọng về mặt biểu hiện tình cảm, cộng với sự ganh đua tài năng. Thí dụ như Yesterday thì 100 phần trăm là do Paul viết, vì nó thuộc loại nhạc sở trường "kẹo bọc đường" của anh. John thì viết nhạc có tính cách rock hơn là ballad. Bài này theo Ian là một bài nhạc rất cách tân của thời ấy vì ban nhạc dùng guitar điện rất to và rõ, nhịp trống mạnh vì dùng nhiều trống floor tom-tom, là trống cái lớn nhất nằm ngay giữa bộ trống.
Một chi tiết khác thú vị, cũng theo Ian, là người nam trong bài này cho dù biết người nữ sẽ ra đi, anh ta không làm gì để ngăn cản hay đe dọa cô ta hết, như trong các bài hát trước đó thường thấy của ban Beatles.
Theo Steve Turner trong A Hard Day's Write: The Stories Behind The Beatles Songs, thì bài này có từ nhiều nguồn cảm hứng. Paul thú nhận với Barry Miles, người viết sử của anh, tin đồn từ các fans ở Mỹ là bài hát nói về cái vé xe lửa của Anh quốc để đi đến cái thành phố nhỏ có tên là Ryde - tin đồn ấy ít nhiều có phần đúng. John thì kể lại với Don Short, một nhà báo chuyên viết về sinh hoạt nghệ thuật, là anh ta lấy cảm hứng từ chuyện các cô gái làng chơi bên Hamburg phải được khám nghiệm tử tế và cấp giấy phép là sạch sẽ thì mới được hành nghề mại dâm. "Ticket to ride" là chữ do chính anh ta đặt ra (he had coined the phrase ' a ticket to ride') để mô tả những tấm giấy chứng nhận này, chứ không phải đó là từ lóng phổ thông mà dân Đức thường dùng.
Tôi đến với Ticket To Ride là qua bản cover của The Carpenters. Cho đến bây giờ tôi vẫn thích nhóm này hát hơn là nhóm The Beatles. Tôi thấy Richard Carpenter quả là có tài khi chuyển từ một bài nhạc rock, trống mạnh, sang một bài nhạc đầy suy tư, thật nhiều những chỗ dừng có nhạc minh họa. Lời nhạc từ chỗ kể về một người yêu ra đi mà người ở lại hững hờ, thành một bài nhạc mà người hát có nhiều tình cảm gắn bó, chia xa đầy tiếc nuối.
Bài này là một trong các bài đầu tay của The Carpenters, nhưng nó có thật nhiều các nghệ thuật, nét riêng biệt làm nhóm nhạc này nổi tiếng. Đọc các tài liệu thì thấy Richard đã biết hòa âm phối khí rất giỏi rất lâu trước khi dĩa nhạc đầu phát hành, nên nhạc và hòa âm chẳng khác xa mấy các bài hát sau đó, không như ABBA hay Beatles, ta có thể theo dõi dược các tiến bộ của họ từ LP trước đến LP sau.
Trở lại một xíu về cảm nghĩ về lời bài hát. "I think I'm gonna be sad" - tôi nghĩ là tôi sẽ buồn lắm đây, do hát chậm lại đã chuyển tải ý nhạc nhiều hơn là bản của The Beatles. "And he don't care" - và anh ta không quan tâm, cũng vậy, do không quan tâm nên chia động từ sai hay đúng (he doesn't care thì đúng văn phạm) cũng chẳng còn cần thiết nữa. Bài này cũng chơi chữ nhe nhàng ở chỗ "the boy that's driving me mad" - anh ta, người làm tôi điên dại - khi dùng động từ drive (lái xe), thì nay chính anh ta "ride" away.
Bài Ticket To Ride được phát hành trong album đầu tay Offering, nhưng vì dân nghe nhạc chưa quen nên bán không chạy lắm. Sau này nhờ bản (I Long to Be) Close to You mà nhóm nổi tiếng, ban nhạc bèn phát hành lại đĩa Offering nhưng với tựa mới là Ticket To Ride thì bán chạy hơn, ăn theo từ sự nổi tiếng của bài Close to You.
Sau đây là video bài do nhóm Beatles trình bày
và The Carpenters
Sau đây là lời bản nhạc
I think I'm gonna be sad,
I think it's today, yeah.
The girl that's driving me mad
Is going away.
She's got a ticket to ri-hide,
She's got a ticket to ri-hi-hide,
She's got a ticket to ride,
But she don't care.
She said that living with me
Was bringing her down yeah.
She would never be free
When I was around.
She's got a ticket to ri-hide,
She's got a ticket to ri-hi-hide,
She's got a ticket to ride,
But she don't care.
I don't know why she ridin' so high,
She ought to think twice,
She ought to do right by me.
Before she gets to saying goodbye,
She ought to think twice,
She ought to do right by me.
I think I'm gonna be sad,
I think it's today yeah.
The girl that's driving me mad
Is going away, yeah.
Ah, she's got a ticket to ri-hide,
She's got a ticket to ri-hi-hide,
She's got a ticket to ride,
But she don't care.
I don't know why she ridin' so high,
She ought to think twice,
She ought to do right by me.
Before she gets to saying goodbye,
She ought to think twice,
She ought to do right by me.
She said that living with me,
Was bringing her down, yeah.
She would never be free
When I was around.
Ah, she's got a ticket to ri-hide,
She's got a ticket to ri-hi-hide,
She's got a ticket to ride,
But she don't care.
My baby don't care, my baby don't care.
My baby don't care,
(Fading)
My baby don't care, my baby don't care.
***
Bản dịch (rất) tạm:
tôi nghĩ tôi sẽ buồn lắm đây,
vì người tôi yêu cuồng yêu dại đã bỏ tôi ra di
hôm nay
Cổ có vé đi tàu rồi, và cổ chẳng hề ưu tư chi hết
Cổ nói là sống với tôi làm cổ chán đời
Rằng cổ chẳng có tự do chi hết mỗi khi tôi ở bên cô
Tôi chẳng hiểu sao cổ lại phẫn uất như vậy
Cổ phải nghĩ lại đi chứ, làm điều phải đi chứ (tức là ở lại với tôi đó)
Trước khi cô ta nói lời chia tay
Cổ phải nghĩ lại đi chứ, làm điều phải đi chứ
***
Hen bạn kỳ sau,
Hoctro 2/10/11
Trong bài viết ngắn này, để đáp lại thịnh tình và lời yêu cầu của bạn Leaqua, tôi viết vài dòng về nhạc phẩm Ticket To Ride, do hai nhạc sĩ John Lennon và Paul McCartney đồng sáng tác.
Trong trang nhà của Wikipedia, bản tiếng Anh, bạn sẽ tìm thấy đầy đủ mọi chi tiết về bản nhạc này http://en.wikipedia.org/wiki/Ticket_to_Ride . Trước đó tôi đã đọc các chi tiết có liên quan đến bài nhạc này trong bộ sưu tập sách Beatles của tôi, sáng nay đọc wikipedia thì thấy những thông tin trong ấy rất tin cậy.
Bản này được phát hành trước dưới dạng single, mặt A là bài này, mặt B là bài Yes It Is. Ticket To Ride chiếm hạng #1 Billboard ngày 22 tháng 5 năm 1965.
Theo Ian McDonald trong quyển Revolution in the Head thì John Lennon là người viết chính, còn McCartney là người viết phụ. Thường thì bạn thấy trong ban Beatles nếu ai hát bài nào tức nhiên người đó là người viết. Đó là vì họ rất coi trọng về mặt biểu hiện tình cảm, cộng với sự ganh đua tài năng. Thí dụ như Yesterday thì 100 phần trăm là do Paul viết, vì nó thuộc loại nhạc sở trường "kẹo bọc đường" của anh. John thì viết nhạc có tính cách rock hơn là ballad. Bài này theo Ian là một bài nhạc rất cách tân của thời ấy vì ban nhạc dùng guitar điện rất to và rõ, nhịp trống mạnh vì dùng nhiều trống floor tom-tom, là trống cái lớn nhất nằm ngay giữa bộ trống.
Một chi tiết khác thú vị, cũng theo Ian, là người nam trong bài này cho dù biết người nữ sẽ ra đi, anh ta không làm gì để ngăn cản hay đe dọa cô ta hết, như trong các bài hát trước đó thường thấy của ban Beatles.
Theo Steve Turner trong A Hard Day's Write: The Stories Behind The Beatles Songs, thì bài này có từ nhiều nguồn cảm hứng. Paul thú nhận với Barry Miles, người viết sử của anh, tin đồn từ các fans ở Mỹ là bài hát nói về cái vé xe lửa của Anh quốc để đi đến cái thành phố nhỏ có tên là Ryde - tin đồn ấy ít nhiều có phần đúng. John thì kể lại với Don Short, một nhà báo chuyên viết về sinh hoạt nghệ thuật, là anh ta lấy cảm hứng từ chuyện các cô gái làng chơi bên Hamburg phải được khám nghiệm tử tế và cấp giấy phép là sạch sẽ thì mới được hành nghề mại dâm. "Ticket to ride" là chữ do chính anh ta đặt ra (he had coined the phrase ' a ticket to ride') để mô tả những tấm giấy chứng nhận này, chứ không phải đó là từ lóng phổ thông mà dân Đức thường dùng.
Tôi đến với Ticket To Ride là qua bản cover của The Carpenters. Cho đến bây giờ tôi vẫn thích nhóm này hát hơn là nhóm The Beatles. Tôi thấy Richard Carpenter quả là có tài khi chuyển từ một bài nhạc rock, trống mạnh, sang một bài nhạc đầy suy tư, thật nhiều những chỗ dừng có nhạc minh họa. Lời nhạc từ chỗ kể về một người yêu ra đi mà người ở lại hững hờ, thành một bài nhạc mà người hát có nhiều tình cảm gắn bó, chia xa đầy tiếc nuối.
Bài này là một trong các bài đầu tay của The Carpenters, nhưng nó có thật nhiều các nghệ thuật, nét riêng biệt làm nhóm nhạc này nổi tiếng. Đọc các tài liệu thì thấy Richard đã biết hòa âm phối khí rất giỏi rất lâu trước khi dĩa nhạc đầu phát hành, nên nhạc và hòa âm chẳng khác xa mấy các bài hát sau đó, không như ABBA hay Beatles, ta có thể theo dõi dược các tiến bộ của họ từ LP trước đến LP sau.
Trở lại một xíu về cảm nghĩ về lời bài hát. "I think I'm gonna be sad" - tôi nghĩ là tôi sẽ buồn lắm đây, do hát chậm lại đã chuyển tải ý nhạc nhiều hơn là bản của The Beatles. "And he don't care" - và anh ta không quan tâm, cũng vậy, do không quan tâm nên chia động từ sai hay đúng (he doesn't care thì đúng văn phạm) cũng chẳng còn cần thiết nữa. Bài này cũng chơi chữ nhe nhàng ở chỗ "the boy that's driving me mad" - anh ta, người làm tôi điên dại - khi dùng động từ drive (lái xe), thì nay chính anh ta "ride" away.
Bài Ticket To Ride được phát hành trong album đầu tay Offering, nhưng vì dân nghe nhạc chưa quen nên bán không chạy lắm. Sau này nhờ bản (I Long to Be) Close to You mà nhóm nổi tiếng, ban nhạc bèn phát hành lại đĩa Offering nhưng với tựa mới là Ticket To Ride thì bán chạy hơn, ăn theo từ sự nổi tiếng của bài Close to You.
Sau đây là video bài do nhóm Beatles trình bày
và The Carpenters
Sau đây là lời bản nhạc
I think I'm gonna be sad,
I think it's today, yeah.
The girl that's driving me mad
Is going away.
She's got a ticket to ri-hide,
She's got a ticket to ri-hi-hide,
She's got a ticket to ride,
But she don't care.
She said that living with me
Was bringing her down yeah.
She would never be free
When I was around.
She's got a ticket to ri-hide,
She's got a ticket to ri-hi-hide,
She's got a ticket to ride,
But she don't care.
I don't know why she ridin' so high,
She ought to think twice,
She ought to do right by me.
Before she gets to saying goodbye,
She ought to think twice,
She ought to do right by me.
I think I'm gonna be sad,
I think it's today yeah.
The girl that's driving me mad
Is going away, yeah.
Ah, she's got a ticket to ri-hide,
She's got a ticket to ri-hi-hide,
She's got a ticket to ride,
But she don't care.
I don't know why she ridin' so high,
She ought to think twice,
She ought to do right by me.
Before she gets to saying goodbye,
She ought to think twice,
She ought to do right by me.
She said that living with me,
Was bringing her down, yeah.
She would never be free
When I was around.
Ah, she's got a ticket to ri-hide,
She's got a ticket to ri-hi-hide,
She's got a ticket to ride,
But she don't care.
My baby don't care, my baby don't care.
My baby don't care,
(Fading)
My baby don't care, my baby don't care.
***
Bản dịch (rất) tạm:
tôi nghĩ tôi sẽ buồn lắm đây,
vì người tôi yêu cuồng yêu dại đã bỏ tôi ra di
hôm nay
Cổ có vé đi tàu rồi, và cổ chẳng hề ưu tư chi hết
Cổ nói là sống với tôi làm cổ chán đời
Rằng cổ chẳng có tự do chi hết mỗi khi tôi ở bên cô
Tôi chẳng hiểu sao cổ lại phẫn uất như vậy
Cổ phải nghĩ lại đi chứ, làm điều phải đi chứ (tức là ở lại với tôi đó)
Trước khi cô ta nói lời chia tay
Cổ phải nghĩ lại đi chứ, làm điều phải đi chứ
***
Hen bạn kỳ sau,
Hoctro 2/10/11
Thứ Hai, 7 tháng 2, 2011
Tổng quan về Lý thuyết viết lời cho một bản nhạc
Bạn,
Hôm nay tình cờ giở quyển sách:The SongWriters Idea Book của bà Sheila Davis, thấy những trang đầu chỉ dẫn ngắn gọn và rõ ràng quá, bèn lên Google Book tìm rồi cắt dán về đây để dành và dịch từ từ, để những ai không mua sách được cũng có thể theo các chỉ dẫn. Tôi đã dịch trước một đoạn http://hoctroviet.blogspot.com/2009/10/essential-lyric-framework-mot-cau-truc.html , nay bê về đây và thử dịch nốt để bạn xem.
Như tôi có nhắc đến rải rác, bên này nhiều sách về lý thuyết sáng tác nhạc hay quá, chỉ sợ không có thì giờ học chứ không sợ thiếu sách, phải chi bên nhà để ý và tìm dịch các loại sách này, thay vì dịch các thứ vô bổ.
Tổng quan này hy vọng cũng sẽ giúp ích ít nhiều với những bạn đang làm công việc dịch những lời bản nhạc Anh Mỹ sang Việt ngữ như bạn Leaqua, vì nó đề cập đến những mục tiêu mà một bài nhạc hay không thể thiếu. Vì là lời dịch nên sườn bài đã có sẵn, nhưng không vì thế mà làm cho việc dịch dễ dàng. Một bài dịch hay sẽ làm người thưởng ngoạn nhớ dai, nhớ suốt đời, như Yesterday (Ngày Hôm Qua) hay Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu do Nam Lộc dịch, hay Khúc Hát Thanh Xuân, Dòng Sông Xanh, v.v. do nhạc sĩ Phạm Duy dịch. http://www.phamduy2010.com/04loiviet/01codien.php
***
Tổng quan về Lý thuyết viết lời cho một bản nhạc
Phải làm sao cho ca từ chứa đựng:
Một ý tưởng đặc sắc, không vay mượn
- Về "người thật việc thật", trong hoàn cảnh có thể tin được,
- Trình bày rõ nét một thái độ hay một xúc cảm mà thôi,
- Đủ kha khá nội dung để có thể viết thành nhạc,
- Dung hòa với lối suy nghĩ của quảng đại quần chúng,
- Viết sao cho người nghe thông cảm được với người hát,
- Viết sao cho hàng triệu người cứ muốn nghe đi nghe lại hoài.
Một cái tựa đáng nhớ
- Nghe một lần là nhớ tên bài liền,
- Tóm tắt được tinh thần của bản nhạc,
- Độc nhất vô nhị (đừng trùng tên với bài của người khác).
Lôi cuốn ngay từ đầu
- Lôi kéo người nghe vào bài nhạc,
- Thiết lập không gian, thời gian, hoàn cảnh, nhân vật chính chỉ trong vài câu đầu.
Một sự phát triển hợp lý
- Trình bày các yếu tố trong bài nhạc theo một thứ tự hợp lý,
- Phát triển một ý tưởng từ điều này, sang điều khác, để đi đến một cái gì đó rõ rệt,
- Phải có kết luận cho bài, dù nói rõ ra hay không.
Thể loại nhạc phù hợp
- bổ sung và thăng hoa mục đích của nhạc phẩm,
- Chuyển tải thành công những kỹ xảo mình mong muốn.
2. Ba loại cốt truyện
Có ba loại cốt truyện của một bài nhạc với độ phức tạp khác nhau:
1. Thái độ: viết về một tình cảm hoặc một thái độ, như bài Unforgettable.(Chẳng quên được em)
2. Tình huống: trong đó thái độ hay tình cảm được lồng vào trong một tình huống làm nó phức tạp thêm, như trong bài Torn between two lovers (Giằng xé giữa hai người tình)
3. Đầy đủ câu chuyện: trong đó các sự kiện được diễn tiến mạch lạc, có lúc khởi đầu, diễn tiến, và chung cuộc, như trong bài Coward of the county (tên hèn nhát của tỉnh.)
3. Các kỹ thuật chính để phát triển một bài nhạc
- Tạo một chuỗi sự kiện có chủ đích ( thí dụ như bài "The First Time I Ever Saw Your Face" - lần đầu anh nhìn thấy dung nhan của em): tường thuật các chi tiết theo thứ tự gia tăng của sự quan trọng của chúng.
- Báo trước ( thí dụ như bài "Class Reunion" - họp mặt bạn học cũ): khơi gợi một cốt truyện hấp dẫn trước khi sự kiện sẽ xảy ra.
- Tạo một hình tượng: ( như trong "Gentle on my mind" - nhẹ nhàng trong trí em): sắp xếp các hình ảnh sao cho chúng tạo nên một khung cảnh nhất định, theo ý tác giả.
- Trở về chủ đề ( như trong "In The Ghetto" - xóm của người da đen) : đem về cuối câu những chữ chính, câu chính, dòng hay đoạn chính đã dùng trước ở phần đầu của đoạn nhạc.
- Tạo mâu thuẫn ( như trong "Coming in and out of your life" - đến và đi khỏi đời em): tạo cho người hát có tâm trạng lạc lõng với các tâm trạng nội tại cũng như ngoại cảnh.
- Tạo căng thẳng có tính cách châm biếm, chõi ( như trong "Send in the Clowns" - gửi tới đây mấy thằng hề): tương phản những điều dường như, hay đã thường xảy ra trong quá khứ để tương phản một cách mỉa mai với hiện tại.
- Tạo ngạc nhiên (như trong "Harper Valley PTA") tạo cho người nghe sự ngạc nhiên ở phần cuối đoạn bằng cách dùng các kỹ thuật như "khám phá", "làm méo đi (ý nghĩa thường)", hay "quay vòng lại khởi thủy".
- Chơi chữ (như trong bài "On the Other Hand" -mặt khác): khai thác một câu hay chữ có nhiều nghĩa. (thí dụ như on the other hand, cả thành ngữ nghĩa là "mặt khác" nhưng chữ hand cũng là bàn tay, có thể dùng cho một nghĩa khác, cụ thể hơn, như đếm từng ngón tay, v.v. - Xem lời nhạc bài này ở cuối bài dịch - hoctro)
- Tạo cảnh trí (như trong "It was a very good year" - đó là một năm rất thành công) tạo ra các bức tranh vẽ phác, tượng trưng nhằm biểu tượng hóa ý nghĩa bài hát.
- Tạo cốt truyện như là một câu hỏi ( như trong "Guess who I saw today, my Dear?" - đố em hôm nay anh vừa gặp ai?): tạo ra một câu hỏi (chưa có câu trả lời) trong phiên khúc đầu, cho tới phiên khúc cuối mới biết lời giải.
- Tạo một đối thoại có tính tranh luận ( như trong "Baby, it's cold outside" Em cưng, ngoài kia trời lạnh lắm): dùng một cặp ca sĩ hát đôi để kịch hóa giữa những ý tưởng chọi nhau.
4. Sườn cốt truyện
Bốn thành tố chính của một cốt truyện bao gồm góc nhìn, suy tư (giọng), thời gian, và khung cảnh - quyện vào nhau để tạo nên xương sống của cốt truyện. Mỗi thành tố phải thật rõ ràng và xuyên suốt để tạo cho giai điệu một cái cột xương sống vững chãi.
Sau đây là 4 thành tố (xem thêm hình minh họa bản tiếng Anh)
Góc nhìn: Ngôi thứ nhất (Tôi, chúng ta) - Ngôi thứ nhì (em hay anh) - Ngôi thứ ba (anh ấy/cô ta/ họ)
Giọng văn: suy nghĩ - nói chuyện.
Thời gian: quá khứ - hiện tại - tương lai - đang liên tục diễn ra.
Khung cảnh: không có - một chốn nhất định - một chốn không rõ rệt như "đang ở đây" - các cảnh trí thay đổi - một cái xe đang chạy.
Sau đây là khái quát về những chọn lựa bạn có thể thực hiện.
Vì đa số các bài nhạc phổ thông đều thuộc loại bày tỏ thái độ hoặc một tình huống, đại đa số góc nhìn đều dùng ngôi thứ nhất và thứ nhì số ít: "tôi" và "em/anh". Dùng ngôi thứ ba số ít "nó, anh ấy, cô ta" khi muốn dẫn chuyện. Đa số lời nhạc để ca sĩ làm "tiếng nói suy nghĩ" - hoặc suy ngẫm về một kinh nghiệm hay một trạng thái tình cảm, hoặc nói về một người hiện vắng mặt, về một nơi chốn nào đó, hay về một điều gì đang diễn ra trong tâm tưởng. Lời nhạc cũng có thể thuộc dạng "đối thoại", trong đó ca sĩ mặt đối mặt và trò chuyện với nhân vật đối diện mà cô/anh đang muốn bày tỏ. Cái phương cách bạn xử lý một trong 4 yếu tố đã đề cập sẽ ảnh hưởng đến 3 yếu tố còn lại. Mục tiêu là dung hòa hết 4 yếu tố để tạo thành một lời nhạc xuyên suốt và mạch lạc. Tóm lại:
a.Để ý đến góc nhìn, suy tư, thời gian, và khung cảnh,
b. khi đã quyết định dùng cái gì thì đừng quên nó,
c. Nếu phải thay đổi, nhớ kể ra trong bài nhạc để người nghe hiểu rõ.
5. Khái quát về vần điệu
Vần điệu: định nghĩa: hai hay ba từ (hoặc cụm từ) được coi là có vần với nhau khi trong mỗi từ chứa một nguyên âm cuối và phụ âm cuối giống nhau, trong khi phụ âm trước âm cuối thì khác với phụ âm của âm cuối. Có ba loại vần: hoàn toàn - với dấu trọng âm chính, hoàn toàn - với dấu trọng âm phụ, và gần như hoàn toàn.
(Vì lối phân loại này theo Anh ngữ nên với tiếng Việt mình không áp dụng hoàn toàn được - tiếng Việt mỗi chữ chỉ có một âm tiết, thay vì một, hai, hay nhiều hơn như trong tiếng Anh. Xin xem kỹ hơn hình phần tiếng Anh để xem bà Davis phân loại ra sao. - hoctro)
6. Mười Nguyên Tắc Chính Để Viết Lời Nhạc
1. Đơn giản: giữ sao cho chỉ có một ý tưởng chính thôi, dẹp bỏ hết các chuyện phụ. Ta có thể tóm tắt được cốt chuyện của một bản nhạc viết giỏi chỉ trong một câu ngắn.
2. Sáng sủa: dùng những đại từ chỉ định để chỉ ra ai đang kể chuyện hay suy nghĩ những gì. Với những đại từ như anh ấy, cô ta, họ, hoặc nó, phải kê ra rõ ràng chúng ám chỉ ai. Nếu cốt chuyện thay đổi không gian, thời gian, hay góc nhìn, phải viết xuống thành lời để diễn tả sự thay đổi này.
3. Cô đọng: mỗi chữ trong bài đều phải có mục đích. Dẹp bỏ các từ sáo rỗng (rất, chỉ) các trợ động từ như chậm đi, buồn hơn hay những từ không cần thiết (mặt trời mọc buổi sáng)
4. Nhấn mạnh: dùng những chữ ngắn, chỉ có một âm. Để những chữ quan trọng vào cuối câu. Nên dùng những động từ thể chủ động chứ không ở thể bị động: viết "nụ hôn của em làm anh bị lừa" chứ không viết "anh bị lừa bởi nụ hôn của em"
5. Nhất quán: dùng tinh thần diễn đạt và văn phong như nhau từ đầu đến cuối bài. Dùng những chữ chính của đề tài như chữ "mưa" lúc nào cũng là "mưa" như mưa rơi thật, hay là luôn dùng như là một hình tượng (mưa = phiền muộn), đừng cho nghĩa này chạy qua nghĩa kia trong cùng bài nhạc. Luôn để lời nhạc có một nghĩa em (hay anh). Thí dụ như rtong bài Moon River, thì con sông là nghĩa "em" xuyên suốt bài hát.
6. Chặt chẽ, mạch lạc: mỗi phản ứng đều phải có lý do xảy ra trước đó. Giữ một trình tự thời gian hợp lý xuyên suốt bài hát: sáng-trưa-tối, cũng như một tình cảm tăng dần hay giảm dần hợp lý, thí dụ như "mỗi phút trong một giờ, mỗi giờ trong một ngày, mỗi ngày của một tuần"
7. Rõ rệt, đặc trưng: chọn một thứ đặc trưng như quả táo so với chung chung như trái cây; rõ rệt (những đóa hồng anh mang đến) thay vì trừu tượng (những điều nho nhỏ anh làm). Bày tỏ tình cảm rõ rệt bằng hành động thay vì kể về nó. Thí dụ như thay vì nó về một tình cảm là e thẹn, bẽn lẽn (shy), ta nên viết rằng "bỗng dưng em thích nhìn đôi giày em" (You take a sudden interest in your shoes.)
8. Lặp lại: để thỏa mãn nhu cầu của người nghe là họ cần ghi nhận lại những gì quen thuộc, lặp đi lặp lại các chữ hay câu quan trọng để nhấn mạnh chủ đề - nhất là nên lặp đi rồi lại lặp lại tựa bài.
9. Đồng nhất: trưng bày các phần tử của bài dựa theo sự quan trọng của các phần tử đó. Đặt các phần tử này vào trong không gian, thời gian, và hành động sao cho chúng hài hòa như một vật thể chung, nhằm tạo ra một ấn tượng nhất định.
10. Cảm giác thành thật: viết về nhữngi ình huống hay tình cảm bạn hiểu được. Không gì thay thế được tính chân thật: phải chân thật mới làm người ta tin được.
7. Các quyết định chính phải làm
Chọn giới tính: những tình cảm biểu lộ trong bài nhạc thuộc về phái nam hay phái nữ? Với một số đề tài thì việc chọn giới tính rất quan trọng (như kiểu "đêm nay ai đưa ANH về" nghe không lọt tai chút nào - hoctro.) Tất nhiên sẽ có những lời nhạc mà phái nào dùng cũng được. Nên chú tâm vào chuyện này trước khi viết lời.
Chọn góc nhìn (quan điểm): nhạc sẽ dùng ngôi thứ nhất và chú tâm vào chữ "tôi"? dùng ngôi thứ hai với chú tâm vào "em" hay "anh"? Hay sẽ dùng ngôi thứ ba, nhấn mạnh vào "anh ta", "cô ấy", hay "họ"? Nếu lời nhạc thay đổi ngôi trong bài (điều hiếm khi xảy ra), nhớ phải làm rõ cũng như có chủ đích rõ rệt tại sao phải làm vậy.
Chọn giọng văn: người ca sĩ sẽ độc thoại (suy nghĩ và nói với chính mình) hay đối thoại (nói với người khác)? Nếu độc thoại thì ca sĩ có thể sẽ 1)ngồi một mình và suy nghĩ, 2)hay có người khác ngồi bên cạnh và suy nghĩ, hay 3)nói về một người vắng mặt, về nơi chốn nay một điều gì đó, và 4)nói về cái "tôi", cái bản ngã của chính mình. Nếu đối thoại thì nghĩa là lời bài nhạc sẽ là cuộc nói chuyện với người thứ hai đang có mặt. Phải lưu ý chọn giọng văn và giữ trọn bài như vậy.
Chọn thời gian: các hành động trong bài có 1) diễn ra trong một thời điểm không xác định, hay 2)hiện tại - một vấn đề đang diễn ra, một tình cảm thường xuyên nghĩ đến, hay là 3) một khoảnh khắc xảy ra chỉ một lần trong hiện tại, hay 4) quá khứ, 5) một quá khứ nhưng dùng động từ ở thể hiện tại, 6) tương lai? Phải chọn một thứ thôi và luôn xem chừng, nếu đổi từ quá khứ sang hiện tại thì phải viết xuống thành lời.
Chọn khung cảnh: ca sĩ độc thoại hay đối thoại ở đâu? trong quán ăn, phòng ngủ, hay trong phòng họp ở công sở? Ngay cả khi lời nhạc không viết xuống là khung cảnh ở đâu, là người soạn lời bạn phải nắm rõ điều này. Khi khung cảnh thay đổi thì phải viết xuống rõ ràng.
Chọn lối diễn đạt: thái độ của ca sĩ về các sự kiện xảy ra trong bài: bâng khuâng, nuối tiếc, thù hận, biết ơn, v.v.) Quan trọng nhất là phải diễn đạt một cách nhất quán, giữ một thái độ xuên suốt bài hát.
Chọn từ vựng: nhân vật trong bài có học thức hay không? hay chỉ khôn vặt nhờ giao tiếp ngoài xã hội? là nhà thơ? Nắm rõ tính cách nhân vật và chọn từ vựng thích hợp để thể hiện xuyên suốt cả bài nhạc.
Chọn cấu trúc bài: bạn muốn người nghe có cảm giác về bài hát ra sao? Cấu trúc bài giúp tạo một hiệu quả nhất định. Một trong ba cấu trúc chính nào sẽ diễn tả đạt nhất tình cãm bạn muốn truyền đạt ?(Ba loại cấu trúc chính là AB: phiên khúc [pk]/điệp khúc [đk]; AABA: pk/pk/đk/pk; và AAA: ba khúc nhạc giống nhau - hoctro). Chọn cấu trúc bài trước khi viết lời xuống.
Sống trọn vẹn như nhân vật: Bạn có thật sự tin vào nhân vật và tình huống bạn đang viết không? Chỉ khi nào bạn thật sự tin, thì khán giả mới tin theo được.
Hiểu tâm lý khán giả: Mỗi loại nhạc đều có khán giả riêng. Các thể loại nhạc thời nay lại càng ngày càng khác biệt nhau. Hiểu và đồng quan điểm với loại khán giả bạn đang viết về - pop, hip-hop, rock, rap v.v.Chọn đúng thể loại nhạc để viết sẽ có tác dụng xâu xa đến từ vựng và phong cách của lời nhạc cũng như âm thanh của bài nhạc.
Kết luận
Vừa rồi là các điều phải ghi nhớ mỗi khi bạn viết lời nhạc. Thật nhiều thứ để nhớ, nhưng (hy vọng) bạn sẽ áp dụng hết chúng vào bản nhạc của bạn, nếu không phải trong bài biên tập nháp đầu tiên, thì phải trong bài biên tập bạn sẽ đem trình làng. Đó mới là bản sẽ chứng tỏ bạn là một nhạc sĩ hay hay dở! (Vậy thì bạn cứ nên sửa đi sửa lại nhiều lần và chăm chú vào các điều trên bạn nhé. Chúc bạn thành công - hoctro)
Dịch xong ngày 25-2-2011
Hoctro
***
***
On the Other Hand Lyrics
On one hand I count the reasons, I could stay with you
And hold you close to me, all night long.
So many lover's games, I’d love to play with you
On that hand there’s no reason, why it's wrong
But on the other hand, there's a golden band
To remind me of someone who would not understand
On one hand I could stay and be your lovin’ man
But the reason I must go is on the other hand
In your arms I feel the passion, I thought had died
When I looked into your eyes, I found myself
When I first kissed your lips, I felt so alive
I've got to hand it to you girl, you're something else
Hôm nay tình cờ giở quyển sách:The SongWriters Idea Book của bà Sheila Davis, thấy những trang đầu chỉ dẫn ngắn gọn và rõ ràng quá, bèn lên Google Book tìm rồi cắt dán về đây để dành và dịch từ từ, để những ai không mua sách được cũng có thể theo các chỉ dẫn. Tôi đã dịch trước một đoạn http://hoctroviet.blogspot.com/2009/10/essential-lyric-framework-mot-cau-truc.html , nay bê về đây và thử dịch nốt để bạn xem.
Như tôi có nhắc đến rải rác, bên này nhiều sách về lý thuyết sáng tác nhạc hay quá, chỉ sợ không có thì giờ học chứ không sợ thiếu sách, phải chi bên nhà để ý và tìm dịch các loại sách này, thay vì dịch các thứ vô bổ.
Tổng quan này hy vọng cũng sẽ giúp ích ít nhiều với những bạn đang làm công việc dịch những lời bản nhạc Anh Mỹ sang Việt ngữ như bạn Leaqua, vì nó đề cập đến những mục tiêu mà một bài nhạc hay không thể thiếu. Vì là lời dịch nên sườn bài đã có sẵn, nhưng không vì thế mà làm cho việc dịch dễ dàng. Một bài dịch hay sẽ làm người thưởng ngoạn nhớ dai, nhớ suốt đời, như Yesterday (Ngày Hôm Qua) hay Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu do Nam Lộc dịch, hay Khúc Hát Thanh Xuân, Dòng Sông Xanh, v.v. do nhạc sĩ Phạm Duy dịch. http://www.phamduy2010.com/04loiviet/01codien.php
***
Tổng quan về Lý thuyết viết lời cho một bản nhạc
Lược dịch: Học Trò (hoctroviet.blogspot.com)
1. Một cấu trúc thiết yếu của ca từ
Phải làm sao cho ca từ chứa đựng:
Một ý tưởng đặc sắc, không vay mượn
- Về "người thật việc thật", trong hoàn cảnh có thể tin được,
- Trình bày rõ nét một thái độ hay một xúc cảm mà thôi,
- Đủ kha khá nội dung để có thể viết thành nhạc,
- Dung hòa với lối suy nghĩ của quảng đại quần chúng,
- Viết sao cho người nghe thông cảm được với người hát,
- Viết sao cho hàng triệu người cứ muốn nghe đi nghe lại hoài.
Một cái tựa đáng nhớ
- Nghe một lần là nhớ tên bài liền,
- Tóm tắt được tinh thần của bản nhạc,
- Độc nhất vô nhị (đừng trùng tên với bài của người khác).
Lôi cuốn ngay từ đầu
- Lôi kéo người nghe vào bài nhạc,
- Thiết lập không gian, thời gian, hoàn cảnh, nhân vật chính chỉ trong vài câu đầu.
Một sự phát triển hợp lý
- Trình bày các yếu tố trong bài nhạc theo một thứ tự hợp lý,
- Phát triển một ý tưởng từ điều này, sang điều khác, để đi đến một cái gì đó rõ rệt,
- Phải có kết luận cho bài, dù nói rõ ra hay không.
Thể loại nhạc phù hợp
- bổ sung và thăng hoa mục đích của nhạc phẩm,
- Chuyển tải thành công những kỹ xảo mình mong muốn.
2. Ba loại cốt truyện
Có ba loại cốt truyện của một bài nhạc với độ phức tạp khác nhau:
1. Thái độ: viết về một tình cảm hoặc một thái độ, như bài Unforgettable.(Chẳng quên được em)
2. Tình huống: trong đó thái độ hay tình cảm được lồng vào trong một tình huống làm nó phức tạp thêm, như trong bài Torn between two lovers (Giằng xé giữa hai người tình)
3. Đầy đủ câu chuyện: trong đó các sự kiện được diễn tiến mạch lạc, có lúc khởi đầu, diễn tiến, và chung cuộc, như trong bài Coward of the county (tên hèn nhát của tỉnh.)
3. Các kỹ thuật chính để phát triển một bài nhạc
- Tạo một chuỗi sự kiện có chủ đích ( thí dụ như bài "The First Time I Ever Saw Your Face" - lần đầu anh nhìn thấy dung nhan của em): tường thuật các chi tiết theo thứ tự gia tăng của sự quan trọng của chúng.
- Báo trước ( thí dụ như bài "Class Reunion" - họp mặt bạn học cũ): khơi gợi một cốt truyện hấp dẫn trước khi sự kiện sẽ xảy ra.
- Tạo một hình tượng: ( như trong "Gentle on my mind" - nhẹ nhàng trong trí em): sắp xếp các hình ảnh sao cho chúng tạo nên một khung cảnh nhất định, theo ý tác giả.
- Trở về chủ đề ( như trong "In The Ghetto" - xóm của người da đen) : đem về cuối câu những chữ chính, câu chính, dòng hay đoạn chính đã dùng trước ở phần đầu của đoạn nhạc.
- Tạo mâu thuẫn ( như trong "Coming in and out of your life" - đến và đi khỏi đời em): tạo cho người hát có tâm trạng lạc lõng với các tâm trạng nội tại cũng như ngoại cảnh.
- Tạo căng thẳng có tính cách châm biếm, chõi ( như trong "Send in the Clowns" - gửi tới đây mấy thằng hề): tương phản những điều dường như, hay đã thường xảy ra trong quá khứ để tương phản một cách mỉa mai với hiện tại.
- Tạo ngạc nhiên (như trong "Harper Valley PTA") tạo cho người nghe sự ngạc nhiên ở phần cuối đoạn bằng cách dùng các kỹ thuật như "khám phá", "làm méo đi (ý nghĩa thường)", hay "quay vòng lại khởi thủy".
- Chơi chữ (như trong bài "On the Other Hand" -mặt khác): khai thác một câu hay chữ có nhiều nghĩa. (thí dụ như on the other hand, cả thành ngữ nghĩa là "mặt khác" nhưng chữ hand cũng là bàn tay, có thể dùng cho một nghĩa khác, cụ thể hơn, như đếm từng ngón tay, v.v. - Xem lời nhạc bài này ở cuối bài dịch - hoctro)
- Tạo cảnh trí (như trong "It was a very good year" - đó là một năm rất thành công) tạo ra các bức tranh vẽ phác, tượng trưng nhằm biểu tượng hóa ý nghĩa bài hát.
- Tạo cốt truyện như là một câu hỏi ( như trong "Guess who I saw today, my Dear?" - đố em hôm nay anh vừa gặp ai?): tạo ra một câu hỏi (chưa có câu trả lời) trong phiên khúc đầu, cho tới phiên khúc cuối mới biết lời giải.
- Tạo một đối thoại có tính tranh luận ( như trong "Baby, it's cold outside" Em cưng, ngoài kia trời lạnh lắm): dùng một cặp ca sĩ hát đôi để kịch hóa giữa những ý tưởng chọi nhau.
4. Sườn cốt truyện
Bốn thành tố chính của một cốt truyện bao gồm góc nhìn, suy tư (giọng), thời gian, và khung cảnh - quyện vào nhau để tạo nên xương sống của cốt truyện. Mỗi thành tố phải thật rõ ràng và xuyên suốt để tạo cho giai điệu một cái cột xương sống vững chãi.
Sau đây là 4 thành tố (xem thêm hình minh họa bản tiếng Anh)
Góc nhìn: Ngôi thứ nhất (Tôi, chúng ta) - Ngôi thứ nhì (em hay anh) - Ngôi thứ ba (anh ấy/cô ta/ họ)
Giọng văn: suy nghĩ - nói chuyện.
Thời gian: quá khứ - hiện tại - tương lai - đang liên tục diễn ra.
Khung cảnh: không có - một chốn nhất định - một chốn không rõ rệt như "đang ở đây" - các cảnh trí thay đổi - một cái xe đang chạy.
Sau đây là khái quát về những chọn lựa bạn có thể thực hiện.
Vì đa số các bài nhạc phổ thông đều thuộc loại bày tỏ thái độ hoặc một tình huống, đại đa số góc nhìn đều dùng ngôi thứ nhất và thứ nhì số ít: "tôi" và "em/anh". Dùng ngôi thứ ba số ít "nó, anh ấy, cô ta" khi muốn dẫn chuyện. Đa số lời nhạc để ca sĩ làm "tiếng nói suy nghĩ" - hoặc suy ngẫm về một kinh nghiệm hay một trạng thái tình cảm, hoặc nói về một người hiện vắng mặt, về một nơi chốn nào đó, hay về một điều gì đang diễn ra trong tâm tưởng. Lời nhạc cũng có thể thuộc dạng "đối thoại", trong đó ca sĩ mặt đối mặt và trò chuyện với nhân vật đối diện mà cô/anh đang muốn bày tỏ. Cái phương cách bạn xử lý một trong 4 yếu tố đã đề cập sẽ ảnh hưởng đến 3 yếu tố còn lại. Mục tiêu là dung hòa hết 4 yếu tố để tạo thành một lời nhạc xuyên suốt và mạch lạc. Tóm lại:
a.Để ý đến góc nhìn, suy tư, thời gian, và khung cảnh,
b. khi đã quyết định dùng cái gì thì đừng quên nó,
c. Nếu phải thay đổi, nhớ kể ra trong bài nhạc để người nghe hiểu rõ.
5. Khái quát về vần điệu
Vần điệu: định nghĩa: hai hay ba từ (hoặc cụm từ) được coi là có vần với nhau khi trong mỗi từ chứa một nguyên âm cuối và phụ âm cuối giống nhau, trong khi phụ âm trước âm cuối thì khác với phụ âm của âm cuối. Có ba loại vần: hoàn toàn - với dấu trọng âm chính, hoàn toàn - với dấu trọng âm phụ, và gần như hoàn toàn.
(Vì lối phân loại này theo Anh ngữ nên với tiếng Việt mình không áp dụng hoàn toàn được - tiếng Việt mỗi chữ chỉ có một âm tiết, thay vì một, hai, hay nhiều hơn như trong tiếng Anh. Xin xem kỹ hơn hình phần tiếng Anh để xem bà Davis phân loại ra sao. - hoctro)
6. Mười Nguyên Tắc Chính Để Viết Lời Nhạc
1. Đơn giản: giữ sao cho chỉ có một ý tưởng chính thôi, dẹp bỏ hết các chuyện phụ. Ta có thể tóm tắt được cốt chuyện của một bản nhạc viết giỏi chỉ trong một câu ngắn.
2. Sáng sủa: dùng những đại từ chỉ định để chỉ ra ai đang kể chuyện hay suy nghĩ những gì. Với những đại từ như anh ấy, cô ta, họ, hoặc nó, phải kê ra rõ ràng chúng ám chỉ ai. Nếu cốt chuyện thay đổi không gian, thời gian, hay góc nhìn, phải viết xuống thành lời để diễn tả sự thay đổi này.
3. Cô đọng: mỗi chữ trong bài đều phải có mục đích. Dẹp bỏ các từ sáo rỗng (rất, chỉ) các trợ động từ như chậm đi, buồn hơn hay những từ không cần thiết (mặt trời mọc buổi sáng)
4. Nhấn mạnh: dùng những chữ ngắn, chỉ có một âm. Để những chữ quan trọng vào cuối câu. Nên dùng những động từ thể chủ động chứ không ở thể bị động: viết "nụ hôn của em làm anh bị lừa" chứ không viết "anh bị lừa bởi nụ hôn của em"
5. Nhất quán: dùng tinh thần diễn đạt và văn phong như nhau từ đầu đến cuối bài. Dùng những chữ chính của đề tài như chữ "mưa" lúc nào cũng là "mưa" như mưa rơi thật, hay là luôn dùng như là một hình tượng (mưa = phiền muộn), đừng cho nghĩa này chạy qua nghĩa kia trong cùng bài nhạc. Luôn để lời nhạc có một nghĩa em (hay anh). Thí dụ như rtong bài Moon River, thì con sông là nghĩa "em" xuyên suốt bài hát.
6. Chặt chẽ, mạch lạc: mỗi phản ứng đều phải có lý do xảy ra trước đó. Giữ một trình tự thời gian hợp lý xuyên suốt bài hát: sáng-trưa-tối, cũng như một tình cảm tăng dần hay giảm dần hợp lý, thí dụ như "mỗi phút trong một giờ, mỗi giờ trong một ngày, mỗi ngày của một tuần"
7. Rõ rệt, đặc trưng: chọn một thứ đặc trưng như quả táo so với chung chung như trái cây; rõ rệt (những đóa hồng anh mang đến) thay vì trừu tượng (những điều nho nhỏ anh làm). Bày tỏ tình cảm rõ rệt bằng hành động thay vì kể về nó. Thí dụ như thay vì nó về một tình cảm là e thẹn, bẽn lẽn (shy), ta nên viết rằng "bỗng dưng em thích nhìn đôi giày em" (You take a sudden interest in your shoes.)
8. Lặp lại: để thỏa mãn nhu cầu của người nghe là họ cần ghi nhận lại những gì quen thuộc, lặp đi lặp lại các chữ hay câu quan trọng để nhấn mạnh chủ đề - nhất là nên lặp đi rồi lại lặp lại tựa bài.
9. Đồng nhất: trưng bày các phần tử của bài dựa theo sự quan trọng của các phần tử đó. Đặt các phần tử này vào trong không gian, thời gian, và hành động sao cho chúng hài hòa như một vật thể chung, nhằm tạo ra một ấn tượng nhất định.
10. Cảm giác thành thật: viết về nhữngi ình huống hay tình cảm bạn hiểu được. Không gì thay thế được tính chân thật: phải chân thật mới làm người ta tin được.
7. Các quyết định chính phải làm
Chọn giới tính: những tình cảm biểu lộ trong bài nhạc thuộc về phái nam hay phái nữ? Với một số đề tài thì việc chọn giới tính rất quan trọng (như kiểu "đêm nay ai đưa ANH về" nghe không lọt tai chút nào - hoctro.) Tất nhiên sẽ có những lời nhạc mà phái nào dùng cũng được. Nên chú tâm vào chuyện này trước khi viết lời.
Chọn góc nhìn (quan điểm): nhạc sẽ dùng ngôi thứ nhất và chú tâm vào chữ "tôi"? dùng ngôi thứ hai với chú tâm vào "em" hay "anh"? Hay sẽ dùng ngôi thứ ba, nhấn mạnh vào "anh ta", "cô ấy", hay "họ"? Nếu lời nhạc thay đổi ngôi trong bài (điều hiếm khi xảy ra), nhớ phải làm rõ cũng như có chủ đích rõ rệt tại sao phải làm vậy.
Chọn giọng văn: người ca sĩ sẽ độc thoại (suy nghĩ và nói với chính mình) hay đối thoại (nói với người khác)? Nếu độc thoại thì ca sĩ có thể sẽ 1)ngồi một mình và suy nghĩ, 2)hay có người khác ngồi bên cạnh và suy nghĩ, hay 3)nói về một người vắng mặt, về nơi chốn nay một điều gì đó, và 4)nói về cái "tôi", cái bản ngã của chính mình. Nếu đối thoại thì nghĩa là lời bài nhạc sẽ là cuộc nói chuyện với người thứ hai đang có mặt. Phải lưu ý chọn giọng văn và giữ trọn bài như vậy.
Chọn thời gian: các hành động trong bài có 1) diễn ra trong một thời điểm không xác định, hay 2)hiện tại - một vấn đề đang diễn ra, một tình cảm thường xuyên nghĩ đến, hay là 3) một khoảnh khắc xảy ra chỉ một lần trong hiện tại, hay 4) quá khứ, 5) một quá khứ nhưng dùng động từ ở thể hiện tại, 6) tương lai? Phải chọn một thứ thôi và luôn xem chừng, nếu đổi từ quá khứ sang hiện tại thì phải viết xuống thành lời.
Chọn khung cảnh: ca sĩ độc thoại hay đối thoại ở đâu? trong quán ăn, phòng ngủ, hay trong phòng họp ở công sở? Ngay cả khi lời nhạc không viết xuống là khung cảnh ở đâu, là người soạn lời bạn phải nắm rõ điều này. Khi khung cảnh thay đổi thì phải viết xuống rõ ràng.
Chọn lối diễn đạt: thái độ của ca sĩ về các sự kiện xảy ra trong bài: bâng khuâng, nuối tiếc, thù hận, biết ơn, v.v.) Quan trọng nhất là phải diễn đạt một cách nhất quán, giữ một thái độ xuên suốt bài hát.
Chọn từ vựng: nhân vật trong bài có học thức hay không? hay chỉ khôn vặt nhờ giao tiếp ngoài xã hội? là nhà thơ? Nắm rõ tính cách nhân vật và chọn từ vựng thích hợp để thể hiện xuyên suốt cả bài nhạc.
Chọn cấu trúc bài: bạn muốn người nghe có cảm giác về bài hát ra sao? Cấu trúc bài giúp tạo một hiệu quả nhất định. Một trong ba cấu trúc chính nào sẽ diễn tả đạt nhất tình cãm bạn muốn truyền đạt ?(Ba loại cấu trúc chính là AB: phiên khúc [pk]/điệp khúc [đk]; AABA: pk/pk/đk/pk; và AAA: ba khúc nhạc giống nhau - hoctro). Chọn cấu trúc bài trước khi viết lời xuống.
Sống trọn vẹn như nhân vật: Bạn có thật sự tin vào nhân vật và tình huống bạn đang viết không? Chỉ khi nào bạn thật sự tin, thì khán giả mới tin theo được.
Hiểu tâm lý khán giả: Mỗi loại nhạc đều có khán giả riêng. Các thể loại nhạc thời nay lại càng ngày càng khác biệt nhau. Hiểu và đồng quan điểm với loại khán giả bạn đang viết về - pop, hip-hop, rock, rap v.v.Chọn đúng thể loại nhạc để viết sẽ có tác dụng xâu xa đến từ vựng và phong cách của lời nhạc cũng như âm thanh của bài nhạc.
Kết luận
Vừa rồi là các điều phải ghi nhớ mỗi khi bạn viết lời nhạc. Thật nhiều thứ để nhớ, nhưng (hy vọng) bạn sẽ áp dụng hết chúng vào bản nhạc của bạn, nếu không phải trong bài biên tập nháp đầu tiên, thì phải trong bài biên tập bạn sẽ đem trình làng. Đó mới là bản sẽ chứng tỏ bạn là một nhạc sĩ hay hay dở! (Vậy thì bạn cứ nên sửa đi sửa lại nhiều lần và chăm chú vào các điều trên bạn nhé. Chúc bạn thành công - hoctro)
Dịch xong ngày 25-2-2011
Hoctro
***
***
On the Other Hand Lyrics
On one hand I count the reasons, I could stay with you
And hold you close to me, all night long.
So many lover's games, I’d love to play with you
On that hand there’s no reason, why it's wrong
But on the other hand, there's a golden band
To remind me of someone who would not understand
On one hand I could stay and be your lovin’ man
But the reason I must go is on the other hand
In your arms I feel the passion, I thought had died
When I looked into your eyes, I found myself
When I first kissed your lips, I felt so alive
I've got to hand it to you girl, you're something else
Thứ Bảy, 29 tháng 1, 2011
Cheryl Crow - Soak Up The Sun
Bạn,
Sáng qua đi làm nghe bài nhạc của Cheryl Crow với nhan đề là "Soak Up The Sun" (tận hưởng ánh dương), thấy có nhiều chỗ viết lời hay quá, bèn để ý và đi tìm, thì lại thấy video cũng đẹp, và lời nhạc còn có thêm nhiều ẩn dụ nữa.
Trước tiên là câu "I don't have digital, I don't have diddly squat". I don't have digital thì cũng giống như tình trạng của tôi hiện nay, không phải thiếu tiền mua một cái smart phone "Droid" để bằng anh bằng em, mà vì tôi nghĩ mình lệ thuộc vào máy móc điện toán điện tử nhiều rồi, nay lại càng lệ thuộc hơn nữa nếu own một cái "Droid". Nhưng câu sau thì mới zui, I don't have diddly squat, nhái lại âm digital, nhưng "diddly squat" thì là chẳng có gì cả, mà theo nghĩa bất cần đời, "đếch thèm".
Thứ hai là câu điệp khúc: I'm gonna soak up the sun, Gonna tell everyone, To lighten up . Lighten up theo người Mỹ hay dùng thì có nghĩa là "thôi bỏ đi Tám", đại sự biến vi tiểu sự, tiểu sự biến vi vô sự, take it easy. Nhưng "soak up the sun" mà đi cùng với "lighten up" thì quả là tuyệt hảo, vì khi mình thu hút, tận hưởng ánh nắng mặt trời, thì nếu người mình không phản xạ, tỏa ánh sáng ra thì đâu có phải là lighten up?
Bài hát ca ngợi sự đơn giản trong đời sống, quay trong khung cảnh Sunny Southern California nơi tôi làm chốn định cư hơn hai mươi năm qua, gần bằng thời gian sống ở VN, làm tôi càng thấy khoái bài nhạc này hơn. Trước kia tôi chỉ biết và thích bài All I wanna do http://www.youtube.com/watch?v=X5ouOa9k0gE , nhưng nay lại có thêm Soak Up The Sun trong danh sách nhạc hay rồi.
Các ý kiến khác về bài Soak Up The Sun ở đây:
http://www.songfacts.com/detail.php?id=2794
Soak Up The Sun
My friend the communist
Holds meetings in his RV
I can't afford his gas
So I'm stuck here watching TV
I don't have digital
I don't have diddly squat
It's not having what you want
It's wanting what you've got
[CHORUS:]
I'm gonna soak up the sun
Gonna tell everyone
To lighten up (I'm gonna tell 'em that)
I've got no one to blame
For every time I feel lame
I'm looking up o I'm gonna soak up the sun
I'm gonna soak up the sun
I've got a crummy job
It don't pay near enough
To buy the things it takes
To win me some of your love
Every time I turn around
I'm looking up, you're looking down
Maybe something's wrong with you
That makes you act the way you do
Maybe i am crazy too
[CHORUS]
I'm gonna soak up the sun
While it's still free
I'm gonna soak up the sun
Before it goes out on me
Don't have no master suite
I'm still the king of me
You have a fancy ride, but baby
I'm the one who has the key
Every time I turn around
I'm looking up, you're looking down
Maybe something's wrong with you
That makes you act the way you do
Maybe I am crazy too
[CHORUS]
I'm gonna soak up the sun
Got my 45 on
So I can rock on.
Sáng qua đi làm nghe bài nhạc của Cheryl Crow với nhan đề là "Soak Up The Sun" (tận hưởng ánh dương), thấy có nhiều chỗ viết lời hay quá, bèn để ý và đi tìm, thì lại thấy video cũng đẹp, và lời nhạc còn có thêm nhiều ẩn dụ nữa.
Trước tiên là câu "I don't have digital, I don't have diddly squat". I don't have digital thì cũng giống như tình trạng của tôi hiện nay, không phải thiếu tiền mua một cái smart phone "Droid" để bằng anh bằng em, mà vì tôi nghĩ mình lệ thuộc vào máy móc điện toán điện tử nhiều rồi, nay lại càng lệ thuộc hơn nữa nếu own một cái "Droid". Nhưng câu sau thì mới zui, I don't have diddly squat, nhái lại âm digital, nhưng "diddly squat" thì là chẳng có gì cả, mà theo nghĩa bất cần đời, "đếch thèm".
Thứ hai là câu điệp khúc: I'm gonna soak up the sun, Gonna tell everyone, To lighten up . Lighten up theo người Mỹ hay dùng thì có nghĩa là "thôi bỏ đi Tám", đại sự biến vi tiểu sự, tiểu sự biến vi vô sự, take it easy. Nhưng "soak up the sun" mà đi cùng với "lighten up" thì quả là tuyệt hảo, vì khi mình thu hút, tận hưởng ánh nắng mặt trời, thì nếu người mình không phản xạ, tỏa ánh sáng ra thì đâu có phải là lighten up?
Bài hát ca ngợi sự đơn giản trong đời sống, quay trong khung cảnh Sunny Southern California nơi tôi làm chốn định cư hơn hai mươi năm qua, gần bằng thời gian sống ở VN, làm tôi càng thấy khoái bài nhạc này hơn. Trước kia tôi chỉ biết và thích bài All I wanna do http://www.youtube.com/watch?v=X5ouOa9k0gE , nhưng nay lại có thêm Soak Up The Sun trong danh sách nhạc hay rồi.
Các ý kiến khác về bài Soak Up The Sun ở đây:
http://www.songfacts.com/detail.php?id=2794
Soak Up The Sun
| Writer(s) | Sheryl Crow, Jeff Trott |
|---|---|
| Producer | Sheryl Crow |
My friend the communist
Holds meetings in his RV
I can't afford his gas
So I'm stuck here watching TV
I don't have digital
I don't have diddly squat
It's not having what you want
It's wanting what you've got
[CHORUS:]
I'm gonna soak up the sun
Gonna tell everyone
To lighten up (I'm gonna tell 'em that)
I've got no one to blame
For every time I feel lame
I'm looking up o I'm gonna soak up the sun
I'm gonna soak up the sun
I've got a crummy job
It don't pay near enough
To buy the things it takes
To win me some of your love
Every time I turn around
I'm looking up, you're looking down
Maybe something's wrong with you
That makes you act the way you do
Maybe i am crazy too
[CHORUS]
I'm gonna soak up the sun
While it's still free
I'm gonna soak up the sun
Before it goes out on me
Don't have no master suite
I'm still the king of me
You have a fancy ride, but baby
I'm the one who has the key
Every time I turn around
I'm looking up, you're looking down
Maybe something's wrong with you
That makes you act the way you do
Maybe I am crazy too
[CHORUS]
I'm gonna soak up the sun
Got my 45 on
So I can rock on.
Thứ Bảy, 15 tháng 1, 2011
100 les plus belles chansons
Bạn, tôi gửi bạn món quà: gần 100 bài nhạc Pháp hay nhất, theo trang nhạc http://www.frmusique.ru/top100.htm . Trang này là nơi tôi hay lấy bài nhạc lời Pháp về để post lên blog này, vì chất lượng bài vở của họ rất cao, bài ít có lỗi chính tả. Hay thật, bên Nga mà cũng thích nhạc Pháp ... (Ấn vào tựa bài để nghe nhạc.)
- Jacques Brel - Ne me quitte pas
- Charles Trenet - La mer
- Barbara - L'aigle noir
- Edith Piaf - Hymne à l'amour
- Léo Ferré - Avec le temps
- Yves Montand - Les feuilles mortes
- Georges Brassens - Les copains d'abord
- Charles Aznavour - La bohème
- Georges Brassens - Chanson pour l'Auvergnat
- Céline Dion - Pour que tu m'aimes encore
- Yves Duteil - Prendre un enfant
- Jacques Brel - Quand on n'a que l'amour
- Claude François - Comme d'habitude
- Jacques Brel - Le plat pays
- Edith Piaf - La Vie En Rose
- Jean Ferrat - La montagne
- Jacques Dutronc - Il est cinq heures Paris s'eveille
- Yves Duteil - La langue de chez nous
- Beau Dommage - La complainte du phoque en Alaska
- Nino Ferrer - Le sud
- Michel Sardou - La maladie d'amour
- Edith Piaf - Milord
- Gilbert Bécaud - Nathalie
- Joe Dassin - L'été indien
- Serge Gainsbourg - La Javanaise
- Françis Cabrel - Petite Marie
- Francis Cabrel - L'encre de tes yeux
- Jacques Brel - Les vieux
- Claude Dubois - Le blues du businessman
- Edith Piaf - Non, Je ne regrette rien
- Léo Ferré - C'est extra
- Yves Duteil - Pour les enfants du monde entier
- Johnny Hallyday - Que je t'aime
- Fabienne Thibeault - Les uns contre les autres
- Jean Ferrat - Que serais-je sans toi?
- Francis Cabrel - Je l' aime à mourir
- Serge Gainsbourg - La chanson de Prévert
- Georges Brassens - Les amoureux des bancs publics
- Gainsbourg - Le poinçonneur des Lilas
- Joe Dassin - Les Champs-Elysées
- Laurent Voulzy - Belle-Île-En-Mer...
- Gérard Lenorman - La ballade des gens heureux
- Raymond Levesque - Quand les hommes vivront d'amour
- Alain Souchon - Foule sentimentale
- Edith Piaf - La foule
- Félix Leclerc - Le petit bonheur
- Daniel Guichard - Mon vieux
- Claude Léveillée - Frédéric
- Daniel Lavoie - Ils s'aiment
- Julien Clerc - Ma préférence
- Daniel Balavoine - l'Aziza
- Barbara - Ma plus belle histoire d'amour
- Hugues Aufray - Céline
- Charles Trenet - L'âme des poètes
- Maxime Le Forestier - San Francisco
- Lucienne Boyer - Parlez-moi d'amour
- Boris Vian- Le déserteur
- Gilles et les Compagnons - Les trois cloches
- Nino Ferrer - La Maison Près De La Fontaine
- Jean Ferrat - C'est beau la vie
- Françoise Hardy - Message personnel
- Félix Leclerc - L'hymne au printemps
- Tino Rossi - Petit Papa Noel
- Aline - Christophe
- Salvatore Adamo - Inch' Allah
- Gilbert Bécaud - Et maintenant
- Lucille Dumont - Le ciel se marie avec la mer
- Berthe Sylva - Les roses blanches
- Michel Fugain - Une belle histoire
- Julien Clerc - Femmes je vous aime
- Jean-Pierre Ferland - Je reviens chez nous
- Serge Gainsbourg - Je suis venu te dire
- Georges Moustaki - Il y avait un jardin
- Fabienne Thibeault - Ziggy
- Claude Nougaro - Tu verras
- Il était une fois - J'ai encore rêvé d'elle
- Eddy Mitchell - Couleur menthe à l'eau
- Maurane - Sur un prélude de Bach
- Pauline Julien - L'âme à la tendresse
- Mireille Mathieu - Mille colombes
- Johnny Hallyday - Quelque chose de Tennessee
- Serge Reggiani - Il suffirait de presque rien
- Jacques Brel - La quête
- Léo Ferré - Vingt ans
- Laurent Voulzy - Le coeur grenadine
- Félix Leclerc - Le tour de l'île
- Georges Dor - La Manic
- Charles Aznavour - La Mamma
- Charles Trenet - Y a d'la joie
- Pierre Perret - Lily
- Dick Annegarn - Bruxelles
- France Gall - Si maman si
- Charles Trenet - Douce France
Chủ Nhật, 9 tháng 1, 2011
Katy Perry - Hot N Cold
Bạn,
Từ khi tìm ra cách nghe nhạc với các ca sĩ đương thời như Katy Perry, Rihanna, Lady Antebellum, v.v. bằng cách vô Billboard tìm các bài hay trong tuần xong rồi đem về kiếm coi có video nào để nghe không, thì tôi bắt đầu thích nghe nhạc của Katy Perry.
Lần đầu xem cô trình diễn là trên Saturday Night Live, đã thấy thích vì phong cách rất sôi nổi, rất Mỹ của cô. Rồi tôi "got hooked" bài Hot N Cold (Nóng và Lạnh) vì thấy cách đặt lời hay quá,rất sát với giai điệu thật sôi nổi, mô tả được sự tương phản trong nhân vật nam (hay nữ) mà cô đề cập. Nghe nhạc này trên freeway thì khỏi sợ buồn ngủ, có khi còn vọt xe 80mph không chừng :-)))
"Em sôi nổi rồi em thờ ơ
em ừ rồi em không,
em đồng ý rồi em lại đổi ý,
em nhiệt tình rồi em chán nản ..."
Khoái cái câu
"Ai làm ơn gọi bác sĩ giùm,
ở đây đang có một người bị bịnh yêu lưỡng cực (love bipolar),
bị mắc kẹt trong một roller coaster,
không thoát nổi cái ride này."
Mới nghe chữ "love bipolar" lần đầu nên cũng không biết dịch sao nữa, theo như Katy mô tả thì đây là loại bịnh "dùng dằng nửa ở nửa về" :-)
Tôi đặc biệt thích cái style viết nhạc, rất nhát gừng, ít chữ như hot and cold, in and out, etc. điệu thì beat như Disco, không biết thời nay họ định danh cô thuộc về dòng nhạc nào? Wikipedia nói rõ hơn nhiều lắm về bài này. Như mấy ông bạn người Mỹ nói, khi tên mày mà lên được trên Wikipedia là mày thành công rồi đó a! (You know you made it when your name is on Wikipedia!)
http://en.wikipedia.org/wiki/Hot_N_Cold
Bạn có thể xem các bài khác tôi đang sưu tầm nhạc Katy Perry ở đây:
http://hoctroyoutube2010.blogspot.com/2010/12/katy-perry.html
Thân mến,
Hot N Cold
Songwriters: Gottwald, Lukasz; Martin, Max; Perry, Katy;
We used to be just like twins, so in sync
The same energy now's a dead battery
Used to laugh 'bout nothing, now you're plain boring
I should know that you're not gonna change
'Cause you're hot and you're cold
You're yes and you're no
You're in and you're out
You're up and you're down
You're wrong when it's right
You're black and it's white
We fight, we break up
We kiss, we make up
You, you don't really wanna stay, no
But you, you don't really wanna go, oh
You're hot and you're cold
You're yes and you're no
You're in and you're out
You're up and you're down
Someone call the doctor
Got a case of a love bipolar
Stuck on a roller coaster
Can't get off this ride
You change your mind like a girl changes clothes
'Cause you're hot and you're cold
You're yes and you're no
You're in and you're out
You're up and you're down
You're wrong when it's right
You're black and it's white
We fight, we break up
We hug, we make up
You, you don't really wanna stay, no
But you, you don't really wanna go, oh
You're hot and you're cold
You're yes and you're no
You're in and you're out
You're up and you're down
Từ khi tìm ra cách nghe nhạc với các ca sĩ đương thời như Katy Perry, Rihanna, Lady Antebellum, v.v. bằng cách vô Billboard tìm các bài hay trong tuần xong rồi đem về kiếm coi có video nào để nghe không, thì tôi bắt đầu thích nghe nhạc của Katy Perry.
Lần đầu xem cô trình diễn là trên Saturday Night Live, đã thấy thích vì phong cách rất sôi nổi, rất Mỹ của cô. Rồi tôi "got hooked" bài Hot N Cold (Nóng và Lạnh) vì thấy cách đặt lời hay quá,rất sát với giai điệu thật sôi nổi, mô tả được sự tương phản trong nhân vật nam (hay nữ) mà cô đề cập. Nghe nhạc này trên freeway thì khỏi sợ buồn ngủ, có khi còn vọt xe 80mph không chừng :-)))
"Em sôi nổi rồi em thờ ơ
em ừ rồi em không,
em đồng ý rồi em lại đổi ý,
em nhiệt tình rồi em chán nản ..."
Khoái cái câu
"Ai làm ơn gọi bác sĩ giùm,
ở đây đang có một người bị bịnh yêu lưỡng cực (love bipolar),
bị mắc kẹt trong một roller coaster,
không thoát nổi cái ride này."
Mới nghe chữ "love bipolar" lần đầu nên cũng không biết dịch sao nữa, theo như Katy mô tả thì đây là loại bịnh "dùng dằng nửa ở nửa về" :-)
Tôi đặc biệt thích cái style viết nhạc, rất nhát gừng, ít chữ như hot and cold, in and out, etc. điệu thì beat như Disco, không biết thời nay họ định danh cô thuộc về dòng nhạc nào? Wikipedia nói rõ hơn nhiều lắm về bài này. Như mấy ông bạn người Mỹ nói, khi tên mày mà lên được trên Wikipedia là mày thành công rồi đó a! (You know you made it when your name is on Wikipedia!)
http://en.wikipedia.org/wiki/Hot_N_Cold
Bạn có thể xem các bài khác tôi đang sưu tầm nhạc Katy Perry ở đây:
http://hoctroyoutube2010.blogspot.com/2010/12/katy-perry.html
Thân mến,
Hot N Cold
Songwriters: Gottwald, Lukasz; Martin, Max; Perry, Katy;
We used to be just like twins, so in sync
The same energy now's a dead battery
Used to laugh 'bout nothing, now you're plain boring
I should know that you're not gonna change
'Cause you're hot and you're cold
You're yes and you're no
You're in and you're out
You're up and you're down
You're wrong when it's right
You're black and it's white
We fight, we break up
We kiss, we make up
You, you don't really wanna stay, no
But you, you don't really wanna go, oh
You're hot and you're cold
You're yes and you're no
You're in and you're out
You're up and you're down
Someone call the doctor
Got a case of a love bipolar
Stuck on a roller coaster
Can't get off this ride
You change your mind like a girl changes clothes
'Cause you're hot and you're cold
You're yes and you're no
You're in and you're out
You're up and you're down
You're wrong when it's right
You're black and it's white
We fight, we break up
We hug, we make up
You, you don't really wanna stay, no
But you, you don't really wanna go, oh
You're hot and you're cold
You're yes and you're no
You're in and you're out
You're up and you're down
Thứ Tư, 5 tháng 1, 2011
Tìm Hiểu về Bộ Não Con Người và Óc Sáng Tạo
Có bao giờ bạn đặt câu hỏi, trí nhớ (memory) từ đâu mà có hay không? Tại sao có người nhớ dai, người hay quên, v.v.? Rồi bịnh tự kỷ (autism) có liên can đến bộ não ra sao? Trong suốt năm vừa qua, người làm show phỏng vấn Charlie Rose đã cùng với khoa học gia Eric Kandel, người đoạt giải thưởng Nobel y học năm 2000, làm một loạt bài giới thiệu, phỏng vấn, trao đổi với các khoa học gia hàng đầu của phương Tây.
http://www.charlierose.com/view/collection/10702
Trong loạt bài ấy, hai người đã giới thiệu cho chúng ta bộ não hoạt động ra sao, từ lúc lọt lòng mẹ, tới khi già yếu và bị các căn bệnh về tuổi già như Parkinson, Alzheimer, v.v. Có 12 videos với các để tài như sau:
http://www.charlierose.com/view/interview/11264?sponsor_id=1
Video này cũng có transcript nữa, nên bạn cũng có thể đọc theo để nắm bắt nội dung nếu nghe sót.
Vài nét về Họa Sĩ Chuck Close
Chuck Close là một họa sĩ lớn của Hoa Kỳ, ông chụp mặt người thân, bạn bè của ông, rồi kẻ ô carô và vẽ lại theo cách của ông. Nghe qua thì giống như vẽ truyền thần, nhưng thực ra không phải vậy. Portrait ông chụp đã có tính nghệ thuật trong đó rồi, ông lại vẽ rất lớn, khuôn mặt nào cũng cao bằng hai ba lần chiều cao người thường, mỗi ô vuông nhỏ lại là một tiểu phẩm nghệ thuật. Người xem phải đi ra đi vào để tìm thấy mặt người trong các ô vuông đó. Ông bị hai thứ bịnh: không nhận dạng được mặt người, khi nhìn lần thứ hai người gặp trước, ông không biết họ là ai vì đã quên mặt rồi. Ông còn bị bịnh liệt từ năm 1990 thì phải, do đó ông vẽ rất khó khăn.
Một hình nhìn gần do Chuck Close vẽ
Có nhiều ý tưởng ông đề ra rất thú vị, tôi mới nghe lần đầu:
- Phải giới hạn môi trường làm việc cực kỳ tối thiểu, thì óc sáng tạo mới có cơ nảy nở. Trước kia ông không giới hạn, vẽ đủ thứ, từ khi ông quăng cọ và màu đi, chỉ vẽ trắng đen thì ông mới có nhiều ý tưởng lạ từ sự tự giới hạn.
- "Cảm hứng là danh từ dành cho dân nghiệp dư, bọn chúng tôi chỉ làm việc như nhên viên công chức, đều đặn hằng ngày." Ông nói, ông không thể chờ cảm hứng đến với ông, vì nó ít khi xảy ra, cũng như ta chờ sung rụng hay "sét đánh" (chữ của ông) vậy. Chỉ qua quá trình làm việc hằng ngày, giải những bài toán xảy ra trong khi vẽ, mới tạo kết quả.
Môi trường cho óc sáng tạo phát triển?
Ngồi chung quanh bàn tròn là những bộ óc rất thông minh, bày tỏ ý kiến, chia sẻ kinh nghiệm riêng của mình về câu hỏi, thế nào là óc sáng tạo. What is the creative mind?
Điều họ cùng đồng ý là phải có môi trường thích hợp để óc sáng tạo có cơ hội phát triển. Với hai nghệ sĩ Chuck Close và Richard Serra là do họ cùng lứa, học cùng trường Yale. Họ cũng lấy các thí dụ khác như các họa sĩ phái ấn tượng cuối thế kỷ 19, rồi thành phố thơ mộng Florence bên Ý thời Phục Hưng, v.v.
Điều này càng làm tôi thích thú vì rất đúng trong trường hợp của nhóm Beatles và ABBA, hai nhóm này rực sáng vì những thành viên làm việc cùng nhau, người này tương tác và xây dựng tiếp ý tưởng trên ý tưởng người kia, v.v. Khi họ rã đám thì ta cũng thấy kết quả làm việc riêng của họ - các bài hát - cũng kém chất lượng hẳn đi.
Ai cũng có óc sáng tạo
Các tác giả đồng ý là ai cũng có óc sáng tạo hết, chẳng phải chi có nghệ sĩ mới có. Điều này làm tôi rất thích thú vì nó giải thích được tại sao tôi chọn nghề của mình là một lập trình viên.. Tôi khoái viết programming. Tôi có ước muốn tự thân muốn tự động hóa các công việc nhàm chán thường ngày, làm chúng nhanh hơn. Viết mà không cần nhận thưởng, vì phần thưởng lớn nhất là những "ah-ha" nho nhỏ khi làm thành công một bước nhỏ trong một bước lớn, hay những trăn trở tìm cách giải khi bị bế tắc, v.v. Hai nghệ nhân trong video cũng nói, đại loại là tôi không thức dậy hôm nay và nói là mình sẽ sáng tạo một điều mới, mà chỉ đơn thuần là làm việc tiếp để tiếp tục giải bài toán ngày hôm qua chưa làm xong, cứ như thế, như thế ...
Đối chiếu với kinh nghiệm bản thân
Họa sĩ Chuck Close có nói trong video là:
I think problem solving is not the issue. I think that’s a problem creation. What we did was try and find a way to ask questions of ourselves that no one else’s answers would fit, and then the search was on.
Tôi tạm dịch:
Tôi nghĩ giải quyết bài toán không phải là điều đáng bàn ở đây. Tôi lại nghĩ đó là việc tạo ra bài toán. Việc chúng tôi làm là tìm kiếm và tìm ra cách thức đặt vấn đề cho chúng tôi, mà người khác không có lời giải hoặc không phù hợp, thế là chúng tôi lao vào tìm kiếm.
Điều ông ấy đặt ra là thế này. Ổng rất ngưỡng mộ các thế hệ đàn anh đi trước, trong khi đang là sinh viên ông ta vẽ theo rất nhiều. Ông ta còn giỡn là ông ta vẽ tranh theo trường phái De Kooning còn nhiều hơn chính De Kooning vẽ nữa. Thế nhưng ông ta không muốn chỉ là một tên thợ vẽ, không có sáng tạo, chỉ theo lối mòn người đi trước đã khai phá. Vậy nên một ngày đẹp trời, ông ta quăng hết cọ đi và cả những thỏi màu, và chỉ vẽ bằng đen trắng, cũng như tìm ra lối vẽ phóng lớn từ ảnh nhưng đầy tính nghệ thuật, cũng rất phù hợp với căn bệnh "không nhớ mặt người" của ông.
Suy nghĩ nhiều về video đó, tôi thấy con đường làm web của tôi cũng hệt như vậy. Không muốn chỉ là một member của một forum, cũng không muốn tốn tiền mua web server và có trang nhà riêng, năm 2006 tôi thử đi vào con đường "blogging" của hãng Google. Kết quả rất mỹ mãn, vì tôi có trang nhà riêng, lại tha hồ được áp dụng các kỹ thuật đã được học ở đại học để ứng dụng vào viết web với JavaScript.
Thế rồi cách đây hơn một năm tôi nảy ra ý muốn thu nhặt các YouTube videos xa xưa, mà các nhạc sĩ Việt Nam đã bỏ công khó ra dịch lời Việt, rồi đem về ráp chúng vào để nghe. Từ từ tôi tìm luôn cả 20, 30 videos rồi cho vào chung một trang. Việc này rất dễ, chỉ cần cut-and-paste nhiều lần, nhưng cái dở là trang dài lắm. Thế là tôi "tạo ra bài toán" (problem creation) cho riêng mình - như họa sị Chuck Close đã mô tả - là tạo ra nhiều links mà chỉ cần một cửa sổ YouTube, để tiết kiệm chỗ cũng như thời gian. Khó khăn thì nhiều, nhưng kết quả rất khả quan. Tôi đang làm một trang có rất nhiều bản nhạc xưa nay của Pháp, Mỹ, có bao nhiêu links cũng được. Đặc biệt vì tính tôi rất lười, nên tôi cũng không muốn phải chọn bài khi vào một trang mới nữa, nên tôi chế ra để máy chạy tự động hết từ bài này sang bài khác. Trang đó ở đây:
http://hoctroyoutube2010.blogspot.com/
Tôi nghiệm thấy tôi làm hệt theo cách Chuck Close mô tả: "Cảm hứng là danh từ dành cho dân nghiệp dư, bọn chúng tôi chỉ làm việc như nhên viên công chức, đều đặn hằng ngày." Chỉ có qua suy nghĩ về một trang có YouTube, rồi chăm chỉ hằng ngày viết mã để hoàn thiện tính năng và thêm các tính năng mới, mà cuối cùng tôi đã có một sản phẩm rất đặc trưng (unique) bảo đảm chưa ai nghĩ ra trên mạng lưới toàn cầu, kể cả dân Anh hay Mỹ. Đặc biệt ở chỗ khi thích bài nào thì ấn vào bài đó, danh sách bài rất dễ đọc và nhiều. Còn nếu không thích thì cứ để tự đông cho máy phát nhạc và làm việc khác. Thí dụ như tôi mở trang Paul Mauriat ( http://hoctroyoutube2010.blogspot.com/2010/12/paul-mauriat.html ) ra nghe là tôi có thể vừa làm việc khác cả ngày vừa enjoy nhạc.
Bài viết đã dài. Hy vọng bạn không bị nhàm và nhất là suy nghĩ về những sáng tạo riêng bạn để thấy chúng ta có cùng mẫu số chung là óc sáng tạo và lòng ham mê tìm tòi. Mong bạn sẽ có thì giờ xem hết video Óc sáng tạo này và trọn bộ còn lại.
Thân mến
Học trò
http://hoctroviet.blogspot.com
http://www.charlierose.com/view/collection/10702
Trong loạt bài ấy, hai người đã giới thiệu cho chúng ta bộ não hoạt động ra sao, từ lúc lọt lòng mẹ, tới khi già yếu và bị các căn bệnh về tuổi già như Parkinson, Alzheimer, v.v. Có 12 videos với các để tài như sau:
- The Great Mysteries of the Human Brain
- The Perceiving Brain
- The Acting Brain
- The Social Brain
- The Developing Brain
- The Aging Brain
- The Emotional and Vulnerable Brain
- The Anxious Brain
- The Mentally Ill Brain
- The Disordered Brain
- The Deciding Brain
- The Creative Brain
http://www.charlierose.com/view/interview/11264?sponsor_id=1
Video này cũng có transcript nữa, nên bạn cũng có thể đọc theo để nắm bắt nội dung nếu nghe sót.
Vài nét về Họa Sĩ Chuck Close
Chuck Close là một họa sĩ lớn của Hoa Kỳ, ông chụp mặt người thân, bạn bè của ông, rồi kẻ ô carô và vẽ lại theo cách của ông. Nghe qua thì giống như vẽ truyền thần, nhưng thực ra không phải vậy. Portrait ông chụp đã có tính nghệ thuật trong đó rồi, ông lại vẽ rất lớn, khuôn mặt nào cũng cao bằng hai ba lần chiều cao người thường, mỗi ô vuông nhỏ lại là một tiểu phẩm nghệ thuật. Người xem phải đi ra đi vào để tìm thấy mặt người trong các ô vuông đó. Ông bị hai thứ bịnh: không nhận dạng được mặt người, khi nhìn lần thứ hai người gặp trước, ông không biết họ là ai vì đã quên mặt rồi. Ông còn bị bịnh liệt từ năm 1990 thì phải, do đó ông vẽ rất khó khăn.
Một hình nhìn gần do Chuck Close vẽ
Có nhiều ý tưởng ông đề ra rất thú vị, tôi mới nghe lần đầu:
- Phải giới hạn môi trường làm việc cực kỳ tối thiểu, thì óc sáng tạo mới có cơ nảy nở. Trước kia ông không giới hạn, vẽ đủ thứ, từ khi ông quăng cọ và màu đi, chỉ vẽ trắng đen thì ông mới có nhiều ý tưởng lạ từ sự tự giới hạn.
- "Cảm hứng là danh từ dành cho dân nghiệp dư, bọn chúng tôi chỉ làm việc như nhên viên công chức, đều đặn hằng ngày." Ông nói, ông không thể chờ cảm hứng đến với ông, vì nó ít khi xảy ra, cũng như ta chờ sung rụng hay "sét đánh" (chữ của ông) vậy. Chỉ qua quá trình làm việc hằng ngày, giải những bài toán xảy ra trong khi vẽ, mới tạo kết quả.
Môi trường cho óc sáng tạo phát triển?
Ngồi chung quanh bàn tròn là những bộ óc rất thông minh, bày tỏ ý kiến, chia sẻ kinh nghiệm riêng của mình về câu hỏi, thế nào là óc sáng tạo. What is the creative mind?
Điều họ cùng đồng ý là phải có môi trường thích hợp để óc sáng tạo có cơ hội phát triển. Với hai nghệ sĩ Chuck Close và Richard Serra là do họ cùng lứa, học cùng trường Yale. Họ cũng lấy các thí dụ khác như các họa sĩ phái ấn tượng cuối thế kỷ 19, rồi thành phố thơ mộng Florence bên Ý thời Phục Hưng, v.v.
Điều này càng làm tôi thích thú vì rất đúng trong trường hợp của nhóm Beatles và ABBA, hai nhóm này rực sáng vì những thành viên làm việc cùng nhau, người này tương tác và xây dựng tiếp ý tưởng trên ý tưởng người kia, v.v. Khi họ rã đám thì ta cũng thấy kết quả làm việc riêng của họ - các bài hát - cũng kém chất lượng hẳn đi.
Ai cũng có óc sáng tạo
Các tác giả đồng ý là ai cũng có óc sáng tạo hết, chẳng phải chi có nghệ sĩ mới có. Điều này làm tôi rất thích thú vì nó giải thích được tại sao tôi chọn nghề của mình là một lập trình viên.. Tôi khoái viết programming. Tôi có ước muốn tự thân muốn tự động hóa các công việc nhàm chán thường ngày, làm chúng nhanh hơn. Viết mà không cần nhận thưởng, vì phần thưởng lớn nhất là những "ah-ha" nho nhỏ khi làm thành công một bước nhỏ trong một bước lớn, hay những trăn trở tìm cách giải khi bị bế tắc, v.v. Hai nghệ nhân trong video cũng nói, đại loại là tôi không thức dậy hôm nay và nói là mình sẽ sáng tạo một điều mới, mà chỉ đơn thuần là làm việc tiếp để tiếp tục giải bài toán ngày hôm qua chưa làm xong, cứ như thế, như thế ...
Đối chiếu với kinh nghiệm bản thân
Họa sĩ Chuck Close có nói trong video là:
I think problem solving is not the issue. I think that’s a problem creation. What we did was try and find a way to ask questions of ourselves that no one else’s answers would fit, and then the search was on.
Tôi tạm dịch:
Tôi nghĩ giải quyết bài toán không phải là điều đáng bàn ở đây. Tôi lại nghĩ đó là việc tạo ra bài toán. Việc chúng tôi làm là tìm kiếm và tìm ra cách thức đặt vấn đề cho chúng tôi, mà người khác không có lời giải hoặc không phù hợp, thế là chúng tôi lao vào tìm kiếm.
Điều ông ấy đặt ra là thế này. Ổng rất ngưỡng mộ các thế hệ đàn anh đi trước, trong khi đang là sinh viên ông ta vẽ theo rất nhiều. Ông ta còn giỡn là ông ta vẽ tranh theo trường phái De Kooning còn nhiều hơn chính De Kooning vẽ nữa. Thế nhưng ông ta không muốn chỉ là một tên thợ vẽ, không có sáng tạo, chỉ theo lối mòn người đi trước đã khai phá. Vậy nên một ngày đẹp trời, ông ta quăng hết cọ đi và cả những thỏi màu, và chỉ vẽ bằng đen trắng, cũng như tìm ra lối vẽ phóng lớn từ ảnh nhưng đầy tính nghệ thuật, cũng rất phù hợp với căn bệnh "không nhớ mặt người" của ông.
Suy nghĩ nhiều về video đó, tôi thấy con đường làm web của tôi cũng hệt như vậy. Không muốn chỉ là một member của một forum, cũng không muốn tốn tiền mua web server và có trang nhà riêng, năm 2006 tôi thử đi vào con đường "blogging" của hãng Google. Kết quả rất mỹ mãn, vì tôi có trang nhà riêng, lại tha hồ được áp dụng các kỹ thuật đã được học ở đại học để ứng dụng vào viết web với JavaScript.
Thế rồi cách đây hơn một năm tôi nảy ra ý muốn thu nhặt các YouTube videos xa xưa, mà các nhạc sĩ Việt Nam đã bỏ công khó ra dịch lời Việt, rồi đem về ráp chúng vào để nghe. Từ từ tôi tìm luôn cả 20, 30 videos rồi cho vào chung một trang. Việc này rất dễ, chỉ cần cut-and-paste nhiều lần, nhưng cái dở là trang dài lắm. Thế là tôi "tạo ra bài toán" (problem creation) cho riêng mình - như họa sị Chuck Close đã mô tả - là tạo ra nhiều links mà chỉ cần một cửa sổ YouTube, để tiết kiệm chỗ cũng như thời gian. Khó khăn thì nhiều, nhưng kết quả rất khả quan. Tôi đang làm một trang có rất nhiều bản nhạc xưa nay của Pháp, Mỹ, có bao nhiêu links cũng được. Đặc biệt vì tính tôi rất lười, nên tôi cũng không muốn phải chọn bài khi vào một trang mới nữa, nên tôi chế ra để máy chạy tự động hết từ bài này sang bài khác. Trang đó ở đây:
http://hoctroyoutube2010.blogspot.com/
Tôi nghiệm thấy tôi làm hệt theo cách Chuck Close mô tả: "Cảm hứng là danh từ dành cho dân nghiệp dư, bọn chúng tôi chỉ làm việc như nhên viên công chức, đều đặn hằng ngày." Chỉ có qua suy nghĩ về một trang có YouTube, rồi chăm chỉ hằng ngày viết mã để hoàn thiện tính năng và thêm các tính năng mới, mà cuối cùng tôi đã có một sản phẩm rất đặc trưng (unique) bảo đảm chưa ai nghĩ ra trên mạng lưới toàn cầu, kể cả dân Anh hay Mỹ. Đặc biệt ở chỗ khi thích bài nào thì ấn vào bài đó, danh sách bài rất dễ đọc và nhiều. Còn nếu không thích thì cứ để tự đông cho máy phát nhạc và làm việc khác. Thí dụ như tôi mở trang Paul Mauriat ( http://hoctroyoutube2010.blogspot.com/2010/12/paul-mauriat.html ) ra nghe là tôi có thể vừa làm việc khác cả ngày vừa enjoy nhạc.
Bài viết đã dài. Hy vọng bạn không bị nhàm và nhất là suy nghĩ về những sáng tạo riêng bạn để thấy chúng ta có cùng mẫu số chung là óc sáng tạo và lòng ham mê tìm tòi. Mong bạn sẽ có thì giờ xem hết video Óc sáng tạo này và trọn bộ còn lại.
Thân mến
Học trò
http://hoctroviet.blogspot.com
Thứ Bảy, 1 tháng 1, 2011
Happy New Year 2011 - Giới thiệu nhạc Pháp
Chúc Mừng Năm Mới 2011 đến các bạn gần xa!
Tuần qua hoctro để nhiều thời gian đi tìm nhạc hay trên youtube, gồm những ban nhạc mình yêu thích, cũng như hầu hết các nhạc sĩ tên tuổi trong làng nhạc Pháp Quốc, xin hân hạnh giới thiệu đến các bạn.
Mỗi link gồm trên dưới 20 bản nhạc đã làm nên tên tuổi từng ca sĩ. Mong rằng món quà nhỏ gồm các links nhạc này sẽ giới thiệu đến với bạn nhiều bài nhạc Pháp bất hủ đã theo bước chúng ta liên tục từ những thập niên 60', 70' đến nay, cũng như nhạc hòa tấu Paul Mauriat, rồi The Beatles, ABBA, The Bee Gees, từ Madonna tới hai ca sĩ "hot" nhứt hiện nay là Katy Perry và Justin Bieber, v.v. và v.v.
Enjoy!
Tuần qua hoctro để nhiều thời gian đi tìm nhạc hay trên youtube, gồm những ban nhạc mình yêu thích, cũng như hầu hết các nhạc sĩ tên tuổi trong làng nhạc Pháp Quốc, xin hân hạnh giới thiệu đến các bạn.
Mỗi link gồm trên dưới 20 bản nhạc đã làm nên tên tuổi từng ca sĩ. Mong rằng món quà nhỏ gồm các links nhạc này sẽ giới thiệu đến với bạn nhiều bài nhạc Pháp bất hủ đã theo bước chúng ta liên tục từ những thập niên 60', 70' đến nay, cũng như nhạc hòa tấu Paul Mauriat, rồi The Beatles, ABBA, The Bee Gees, từ Madonna tới hai ca sĩ "hot" nhứt hiện nay là Katy Perry và Justin Bieber, v.v. và v.v.
Enjoy!
ABBA ♪ Alain Barrière ♪ Alain Bashung ♪ Alain Chamfort ♪ Aspanzée ♪ Andrea Bocelspan ♪ Anne-Marie David ♪ C Jérôme ♪ Cespanne Dion ♪ Charles Aznavour ♪ Charles Trenet ♪ Charlotte Gainsbourg ♪ Christina Aguilera ♪ Christophe ♪ Claude Barzotti ♪ Claude Dubois ♪ Claude François ♪ Daspanda ♪ Daniel Balavoine ♪ Daniel Lavoie ♪ David et Jonathan ♪ Demis Roussos ♪ Diane Dufresne ♪ Diane Tell ♪ Didier Barbespanvien ♪ Eddy Mitchell ♪ Elvis Presley ♪ Enrico Macias ♪ Etienne Daho ♪ Fernandel ♪ France Gall ♪ Francis Cabrel ♪ Français ♪ François Feldman ♪ François Valéry ♪ Françoise Hardy ♪ Frida Boccara ♪ Féspanx Leclerc ♪ Gabriela Montero ♪ Georges Brassens ♪ Georges Hamel ♪ Georges Moustaki ♪ Gerard Lenorman ♪ Guitare ♪ Guy Marchand ♪ Gérard Presgurvic ♪ Hervé Vilard ♪ Hugues Aufray ♪ Il était une fois ♪ Indochine ♪ J.S. Bach ♪ Jacques Brel ♪ Jacques Dutronc ♪ Jacques Prévert ♪ Jane Birkin ♪ Jean Ferrat ♪ Jean-Jacques Goldman ♪ Jean-Jaques Lafont ♪ Jean-Pierre Ferland ♪ Jeanne Mas ♪ Joe Dassin ♪ John Lennon ♪ Johnny Farago ♪ Johnny Halspanday ♪ Juspanen Clerc ♪ Juspanette Gréco ♪ Juspano Iglesias ♪ Justin Bieber ♪ Karaoke ♪ Katy Perry ♪ Lara Fabian ♪ Laurent Voulzy ♪ Les Chaussettes Noires ♪ Les Négresses Vertes ♪ Les Poppys ♪ Léo Ferré ♪ Madonna ♪ Mariah Carey ♪ Marie Laforêt ♪ Marie Myriam ♪ Maxime Le Forestier ♪ Michael Jackson ♪ Michel Berger ♪ Michel Delpech ♪ Michel Fugain ♪ Michel Jonasz ♪ Michel Legrand ♪ Michel Polnareff ♪ Michel Sardou ♪ Mireille Mathieu ♪ Miscellaneous ♪ Mylène Farmer ♪ Nana Mouskouri ♪ Nicole Croisille ♪ Nicoletta ♪ Nino Ferrer ♪ Patricia Kaas ♪ Patricia Lavila ♪ Patrick Bruel ♪ Patrick Juvet ♪ Paul Mauriat ♪ Paul Mauriat 66-68 ♪ Pierre Bachelet ♪ Ray Ventura ♪ Richard Anthony ♪ Richard Desjardins ♪ Sacha Distel ♪ Salvatore Adamo ♪ Serge Gainsbourg ♪ Serge Lama ♪ Stephan Eicher ♪ Stéphanie ♪ Susan Boyle ♪ Sylvie Vartan ♪ The Beatles ♪ The Beatles #2 ♪ The Beatles #3 ♪ The Beatles #4 ♪ The Beatles #5 ♪ The Bee Gees ♪ The Carpenters ♪ The Supremes ♪ Vanessa Paradis ♪ Vicky Leandros ♪ Véronique Sanson ♪ World Music Collection #1 ♪ World Music Collection #2 ♪ World Music Collection #3 ♪ World Music Collection #4 ♪ World Music Collection #5 ♪ World Music Collection #6 ♪ Yves Duteil ♪ Yves Montand ♪
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)


















