Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Duy. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Duy. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 28 tháng 2, 2012

“Thuyền Viễn Xứ” trong tâm thức hoài hương

Đào Trường Phúc



Một thi sĩ lừng danh của nước Mỹ ở thế kỷ 19 là Henry W. Longfellow đã để lại trên 10 tập thơ, trong đó có những câu thơ bất hủ mà cho tới nay vẫn còn được nhiều người trích dẫn mỗi khi nói đến tâm thức hoài hương. Đại ý đoạn thơ viết rằng hoài hương “là một nỗi buồn nhớ mênh mang mà không phải là sự đau đớn”, và nếu ta nghĩ tâm trạng hoài hương cũng giống như niềm sầu khổ thì chẳng khác nào ta thấy “một màn sương muối giống như một màn mưa giăng”.

Có lẽ đúng thế thật. Với thời gian càng lúc càng chồng chất trên mái tóc và quê hương càng lúc càng khuất sâu trong trí nhớ, tôi dần dần nghiệm ra rằng, khác với tình yêu lứa đôi mà khi tan vỡ có thể biến thành niềm oán hận hoặc để lại một vết thương khó lành, tình hoài hương là tình cảm duy nhất sống mãi trong tâm hồn mà chẳng gây ra nỗi đau lòng, ngược lại đôi khi còn vỗ về an ủi tâm hồn ta như bàn tay mẹ hiền những ngày thơ ấu, hoặc đưa tâm hồn bay vút lên cao như cánh gió ban mai, để từ đó ta cảm thấy nỗi nhớ thương tràn ngập trong tim dường như đang hỏa lẫn với một niềm hạnh phúc mơ hồ…

Những ý nghĩ vụn vặt ấy thường hay đến với tôi cùng với giai điệu và lời hát của một ca khúc viết về tình hoài hương. Đất nước nào, dân tộc nào cũng có những ca khúc viết về tình hoài hương, nhưng tôi tự cho phép mình lý luận một cách rất chủ quan rằng chỉ có đất nước Việt Nam mới mang lại cho dân tộc Việt Nam một khối lượng lớn những ca khúc viết về tình hoài hương tuyệt vời đến như thế, mỗi ca khúc đã trở thành một viên ngọc trong kho tàng âm nhạc. Dĩ nhiên đây là một điều đáng tự hào. Nhưng hình như đây cũng là một định mệnh hàm chứa nỗi bất hạnh.

Tình hoài hương được định nghĩa một cách đơn giản là nỗi nhớ quê hương. Nhưng trong văn chương, nghệ thuật, âm nhạc của nhân loại nói chung, quê hương luôn luôn là một ý niệm rất tương đối. Người ta không thể mang những quy ước hay tiêu chuẩn về địa dư, lãnh thổ, biên giới, hoặc về sinh quán, nguyên quán, gia tộc… để xác định nguồn cảm hứng đã tạo thành những tác phẩm gói ghém lòng tư hương của người nghệ sĩ. Điều này thể hiện rõ rệt qua các ca khúc hoài hương trong giòng nhạc Việt.

Hãy thử nhớ lại giai điệu và lời ca của một số bài hát đã đi vào lòng chúng ta như “Nhớ Quê Hương” (Phạm Ngữ), “Làng Tôi” (Chung Quân), “Tình Quê Hương” (Việt Lang), “Chiều Quê” (Hoàng Quý), “Ôi Quê Xưa” (Dương Thiệu Tước), “Quê Hương” (Hoàng Giác), “Tiếng Sáo Chiều Quê” (Hoàng Giác), “Ngày Về” (Hoàng Giác), “Quê Mẹ” (Thu Hồ), “Xa Quê” (Lê Quang Nhạc), “Tình Hoài Hương” (Phạm Duy), “Thuyền Viễn Xứ” (Phạm Duy), “Người Em Nhỏ” (Nguyễn Hiền), “Buồn Nhớ Quê Hương” (Hoàng Trọng), “Lạnh Lùng” (Hoàng Trọng), “Hướng Về Hà Nội” (Hoàng Dương) v.v… Những ca khúc này đều được sáng tác trong khoảng từ giữa thập niên 40 đến giữa thập niên 50, hay nói cách khác, đều ra đời trước khi đất nước bị cắt đôi vì hiệp định Genève 1954. Vào thời điểm ấy, tuy cuộc ly hương thật sự của hơn 1 triệu người chưa xảy ra nhưng chiến tranh đã lan rộng khắp nơi, đã dìm ngập nhiều vùng đất trong khói lửa đạn bom và đã đẩy hàng triệu người ra khỏi làng mạc quê quán. Vì thế, “quê hương” làm rung động những tâm hồn nghệ sĩ trong giai đoạn ấy, là “miền quê binh khói” (Hoàng Giác), là “quê tôi chìm chân trời mờ sương” (Chung Quân), là “cảnh làng xưa vết hoang tàn đìu hiu gió sương” (Dương Thiệu Tước). Hình ảnh và âm hưởng “quê hương” làm ray rứt lòng người trong giai đoạn ấy có thể là một vùng quê với “ngàn dâu xanh ngát mấy nếp tranh xa mờ, tiếng sáo bay dập dìu đường về thôn xưa” (Việt Lang), hoặc có thể là Hà Nội với “nước hồ là ánh gương soi, nắng hè tô thắm lên môi, thanh bình tiếng guốc reo vui” (Hoàng Dương), mà cũng có thể chỉ là những kỷ niệm thật đơn sơ như “bên than hồng êm ấm, ta xum vầy sung sướng” (Hoàng Trọng), hay “lúc trăng đang dần nhô cao đầu trên khóm tre già, chúng ta quây quần vui nô đùa bên mấy khóm hoa” (Phạm Ngữ)… Biết bao nhiêu ca khúc bất hủ đã ra đời trong khói lửa chiến tranh để gửi gắm tình hoài hương của những nhạc sĩ phải lìa xa vùng trời kỷ niệm, ôm trong lòng nỗi nhớ mênh mang hướng về làng quê xưa hay thành phố cũ, và mơ một ngày “tàn cơn chinh chiến, lửa khói đắm chìm” (Hoàng Dương), để có thể “đón gió thanh bình trong nắng hanh vàng” (Hoàng Trọng), để được “tung cánh chim tìm về tổ ấm” và “say sưa cuộc sống bên ngàn lũy tre, xa lánh cuộc đời khắt khe trăm đau nghìn thương” (Hoàng Giác)…

Thế nhưng, như một định mệnh hàm chứa nỗi bất hạnh, cuộc chiến tranh 1945-1954 trên đất nước Việt Nam đã chỉ kết thúc bằng một cuộc phân ly, để rồi lại mở đường cho cuộc chiến tranh kế tiếp – một cuộc nội chiến tương tàn sẽ kéo dài hai thập niên và cũng sẽ chỉ kết thúc bằng một cuộc phân ly khác.

Hiểu theo một ý nghĩa hơi có phần cay đắng thì cuộc phân ly lần thứ nhất năm 1954 đã định nghĩa lại ý niệm “quê hương” trong tình hoài hương của những người nghệ sĩ, vì chiến tranh tuy đã kết thúc mà họ vẫn không có một quê hương thanh bình để trở về, chẳng những vậy mà họ còn phải lìa bỏ nơi chôn nhau cắt rốn để ra đi. “Quê hương” của chuyến ra đi năm ấy không phải là “miền quê binh khói” nữa, mà là quê hương đã bị cắt lìa bởi một giòng sông, một vĩ tuyến, một ý thức hệ. Tình hoài hương trong các ca khúc được viết vào thời điểm ấy tuy vẫn mang chất u hoài lãng mạn nhưng đã pha thêm niềm đau đớn, nỗi uất hận, và lòng xót thương gửi về một quê hương đang chìm vào bóng tối. Bao nhiêu tình cảm đó hòa lẫn với nhau để tạo thành những nhạc phẩm tuyệt vời như “Xa Quê Hương” (Đan Thọ & Xuân Tiên), “Thương Về Năm Cửa Ô Xưa” (Y Vân & Tạ Tỵ), “Hận Ly Hương” (Anh Hoa & Ngọc Long), “Giấc Mơ Hồi Hương“, “Nhặt Cánh Sao Rơi“, “Gửi Áng Mây Hàng” (Vũ Thành), “Bóng Quê Xưa“, “Vọng Cố Đô“, “Thu Ly Hương” (Nhật Bằng & Đan Thọ), “Nhạt Nắng” (Xuân Lôi & Y Vân), “Tình Cố Đô“, “Chuyến Đò Vĩ Tuyến” (Lam Phương), “Sầu Ly Hương” (Lam Phương & Lê Mộng Bảo), “Hoa Bướm Ngày Xưa“, “Gửi Một Cánh Chim” (Nguyễn Hiền), “Lá Thư Gửi Mẹ” (Nguyễn Hiền & Thái Thủy), “Bắc Một Nhịp Cầu“, “Bên Bờ Đại Dương” (Hoàng Trọng & Hồ Đình Phương), “Chiều Mưa Nhớ Bắc“, “Em Còn Nhớ Không Em” (Hoàng Trọng & Thanh Nam), “Hướng Về Đất Bắc” (Phó Quốc Thăng), “Xuân Ly Hương” (Phó Quốc Lân), “Nỗi Lòng Người Đi” (Anh Bằng), “Xuân Tha Hương” (Phạm Đình Chương), “Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội” (Phạm Đình Chương & Hoàng Anh Tuấn) v.v…

Sẽ chẳng bao giờ chúng ta có được một danh mục đầy đủ các ca khúc thể hiện tình hoài hương trong âm nhạc Việt Nam, bởi vì chất hoài hương không phải chỉ tẩm đẫm giai điệu của những ca khúc giãi bày niềm thương nhớ một quê hương xa cách, mà chất hoài hương còn len lỏi vào cả những nhạc phẩm viết về tình yêu đôi lứa — những bản tình ca bất hủ như “Bến Xuân” (Văn Cao), “Tiếng Chuông Chiều Thu” (Tô Vũ), “Người Em Nhỏ” (Nguyễn Hiền & Thiệu Giang), “Tình Nghệ Sĩ” (Đoàn Chuẩn & Từ Linh), “Trên Đường Về” (Nguyễn Thiện Tơ)… Có phải đó là định mệnh chung cho mọi tâm hồn nghệ sĩ trên trần gian (mỗi nghệ sĩ đều có lúc cảm thấy mình giống như một đứa trẻ lạc loài), hay đó là một sắc thái riêng của âm nhạc Việt Nam, giòng âm nhạc mà ngay từ lúc phôi thai đã bị cột chặt với những thăng trầm của đất nước và đắm chìm theo từng mùa ly loạn, từng cuộc phân ly?

Nhưng dù giải thích thế nào đi nữa, rõ ràng là tâm thức hoài hương đã mang đến cho kho tàng văn chương nghệ thuật của chúng ta quá nhiều viên ngọc quý, và từ thế hệ này tiếp nối qua thế hệ khác, cho dù phiêu dạt ở phương trời xa xôi nào, nếu chúng ta vẫn cảm nhận được nỗi nhớ mênh mang hòa lẫn với niềm hạnh phúc mơ hồ mỗi khi gặp lại quê hương qua những vần thơ Nguyễn Bính “Tết này chưa chắc em về được, Em gửi về đây một tấm lòng…”, thì chắc chắn tâm hồn chúng ta cũng rung động y như vậy khi nghe những lời thơ Tạ Tỵ được Y Vân phổ nhạc để trở thành tiếng thở dài chua chát “…Có tiếc chăng ai, mái tóc bồng bềnh chảy xuôi ý đẹp? Có nhớ chăng ai, lệ nào ướt đẫm tình người? Ôi Hà Nội ơi! Tê tái tiếng cười, từng cánh hoa đời khép lại, thương về năm cửa ô xưa“, hay những vần thơ Huyền Chi được Phạm Duy đưa vào nhạc và trở thành một trong những ca khúc hoài hương tuyệt vời của giòng nhạc Việt.
oOo
Tôi viết “Thuyền Viễn Xứ Trong Tâm Thức Hoài Hương” vào những ngày đầu năm Nhâm Thìn, mùa Xuân tha hương thứ hai mươi tám kể từ khi lìa xa đất nước và chưa một lần trở lại. Cũng như rất nhiều người khác, đối với tôi cuộc phân ly ấy là cuộc phân ly lần thứ hai, sau chuyến đi lần thứ nhất theo cha mẹ và các anh chị trong làn sóng di cư của một triệu người rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn để vào Nam tìm tự do. Những năm sau đó, lớn lên ở miền Nam, tôi bắt đầu biết nghe và yêu thích các ca khúc của một thời mà người ta quen gọi là “nhạc tiền chiến” nhưng thật sự bao gồm tất cả các ca khúc được viết trong giai đoạn từ 1938 đến 1954. Tôi bắt đầu hiểu tại sao anh tôi sưu tập và trân quý những nhạc phẩm do Tinh Hoa, Á Châu, An Phú… ấn hành trước và sau ngày di cư, những bản nhạc in rời bằng giấy cứng khổ lớn, mỗi mẫu bìa là một họa phẩm tuyệt đẹp. Tôi nhớ mãi bản nhạc “Thuyền Viễn Xứ” được cả hai nhà xuất bản Tinh Hoa và Á Châu ấn hành nên có hai mẫu bìa khác nhau, một là bức tranh màu nước với bà mẹ già đứng bên hàng liễu rủ nhìn theo bóng con thuyền ra khơi, và một là bức tranh lập thể của Tạ Tỵ với hình ảnh cánh buồm và cây đàn guitar như con thuyền trôi bập bềnh theo sóng nước…

Nhưng nếu không có cuộc phân ly lần thứ hai, có thể tôi vẫn chỉ biết yêu thích mà chưa cảm nhận được trọn vẹn chất hoài hương trong những ca khúc đã đi vào lòng người ngay từ cuộc phân ly lần thứ nhất. Hà Nội của tôi là Hà Nội bàng bạc qua những hình ảnh và âm thanh chỉ vừa đủ sắc nét để in vào trang giấy trắng của ký ức tuổi thơ, trong khi với cha mẹ và các anh chị tôi thì Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình, Cao Bằng… đều là những thành phố tràn đầy kỷ niệm đến độ khi phải lìa xa cũng chẳng khác gì cắt đứt một mảnh đời, rứt bỏ một phần da thịt. Cảm giác đau xót ấy, nhiều năm sau sẽ đến lượt tôi trải qua, khi lênh đênh giữa biển khơi, nhìn về cuối chân trời thăm thẳm mà không còn đoán được mảnh đất quê hương ở về hướng nào…

Thế rồi sau đó lại thêm nhiều năm nữa qua đi… Một buổi tối mùa Đông rất lạnh trên xứ người, tôi nhận được qua email tấm thiệp Xuân của anh tôi gửi từ quê nhà, kèm theo bản scan một bài thơ in trên trang báo cũ. Bấm “play” để mở thiệp, tôi nghe giai điệu quen thuộc của một bản nhạc không lời được đưa vào mp3. Bài thơ “Thuyền Viễn Xứ” của Huyền Chi và bản nhạc của Phạm Duy. Chắc hẳn anh tôi vừa tìm được một tờ tạp chí cũ kỹ nào đó đăng bài thơ ấy nên đã gửi tấm thiệp Xuân như một món quả cho đứa em tha hương. Là vì trong những email trước đó không lâu anh em chúng tôi đã nhắc với nhau bài thơ lục bát của Huyền Chi và tôi đã kể cho anh tôi nghe về cuộc nói chuyện qua điện thoại rất bất ngờ với tác giả bài thơ.

Người giới thiệu để có được cuộc điện đàm là chị Hồ Thị Ái Liên, chủ nhân và hiệu trưởng một trường dạy thẩm mỹ ở Virginia và là em thúc bá của nhà thơ Hồ Đình Phương (tác giả “Tình Thế Hệ“, “Sưởi Nắng“…. với một số bài thơ phổ nhạc đã trở thành những ca khúc bất hủ của Hoàng Trọng, Châu Kỳ…). Tình cờ trong một lần nói chuyện, chị Ái Liên cho biết hồi 1955-57, chị là học trò lớp đệ Ngũ và đệ Tứ của phu quân nhà thơ Huyền Chi: giáo sư Trần Phụng Tường, dạy Pháp văn tại trường trung học Phan Bội Châu, Phan Thiết. Chị Ái Liên cũng cho biết nữ sĩ Huyền Chi hiện vẫn đang ở Sài Gòn và mở lớp dạy kèm sinh ngữ luyện thi đại học tại tư gia.

Qua điện thoại, tác giả “Thuyền Viễn Xứ” nói đến tập thơ đầu tay của bà mang tựa đề “Cởi Mở“, với 22 bài thơ ký bút hiệu Huyền Chi, do nhà in Sống Chung ấn hành. Bà kể lại: Sinh năm 1934 tại Từ Sơn, Bắc Ninh, bà theo gia đình rời nguyên quán vào Nam khi còn là một nữ sinh trung học, thoạt đầu ở Đà Lạt với chị, sau đó về Sài Gòn ở với mẹ, vừa đi học vừa giúp mẹ trông nom sạp bán vải ở chợ Bến Thành. Lập gia đình năm 1954, bà theo chồng ra Phan Thiết, mở hiệu sách, dạy Anh ngữ, rồi làm việc cho cơ quan MAC-V, và sau biến cố 1975 bà cùng gia đình dời về lại Sài Gòn. Phu quân của bà, giáo sư Trần Phụng Tường đã tạ thế năm 2010. Trong 7 người con của ông bà, 4 người hiện ở Việt Nam, 3 người ở Hoa Kỳ.

Bà tỏ vẻ xúc động khi nghe tôi đọc mấy câu đầu của bài thơ mà tôi đã nhớ thuộc lòng không biết từ bao giờ. Bà kể lại, cùng với những bài thơ khác trong tập “Cởi Mở“, bài “Thuyền Viễn Xứ” được sáng tác vào năm 1952, thời gian bà sinh hoạt với một nhóm văn nghệ sĩ trẻ và làm thư ký tòa soạn chuyên trách mục thơ cho tạp chí Phụ Nữ ở Sài Gòn. Tình cờ gặp gỡ tại nhà in Sống Chung trên đường Trần Hưng Đạo, cô nữ sinh 18 tuổi ký tặng một ấn bản của tập thơ đầu tay còn thơm màu mực mới cho một nhạc sĩ thành danh, lúc đó đang ở Sài Gòn để sắp xếp công việc cho gia đình vừa từ Bắc vô Nam. Đó là lần duy nhất tác giả bài thơ gặp tác giả bản nhạc. Đó cũng là thời điểm đánh dấu một khúc quanh khắc nghiệt của lịch sử: chiến tranh sắp kết thúc nhưng hòa bình đã chỉ đến qua một hiệp định quốc tế cắt đôi đất nước, đưa tới cuộc di cư của một triệu người dân miền Bắc và mở đầu cuộc chiến tranh ý thức hệ kéo dài 20 năm…

Rồi thời gian tiếp tục trôi đi… Đất nước lại trải qua thêm một cuộc bể dâu… Những ấn bản của tập thơ “Cởi Mở” đã bị thất lạc từ năm 1975 lúc tác giả cùng gia đình di chuyển về Sài Gòn, và đến bây giờ thì chính nữ sĩ Huyền Chi cũng không còn nhớ trọn vẹn từng bài thơ trong đó nữa. Về lần gặp gỡ ngắn ngủi nhạc sĩ Phạm Duy đúng 60 năm về trước, bà cho biết gần đây bà cũng đã kể lại với một nhà báo ở Việt Nam là cựu nữ sinh trường Phan Bội Châu, để viết trong bài “Huyền Chi tác giả bài thơ Thuyền Viễn Xứ là ai?” (Nguyễn Phước Thị Liên, tạp chí Kiến Thức Ngày Nay số 768 tháng 12-2011).

Đây là 24 câu lục bát của bài thơ “Thuyền Viễn Xứ“:

Ra khơi sương khói một chiều
Thùy dương rũ bến tiêu điều ven sông
Lơ thơ rớt nhẹ men lòng
Mây trời pha ráng lụa hồng giăng ngang
Có thuyền viễn xứ Đà Giang
Một lần dạt bến qua ngàn lau thưa
Hò ơi! Câu hát ngàn xưa
Ngân lên trong một chiều mưa xứ người
Đường về cố lý xa xôi
Nhịp sầu lỡ bước, tiếng đời hoang mang
Sau mùa mưa gió phũ phàng
Bến sông quay lại, hướng làng nẻo xa
Lệ nhòa như nước sông Đà
Mái đầu sương tuyết lòng già mong con
Chiều nay trời nhẹ xuống hồn
Bao nhiêu sương khói chập chờn lên khơi
Hai bờ sông cách biệt rồi
Tần Yên đã nổi bốn trời đao binh
Ngàn câu hát buổi quân hành
Dặm trường vó ngựa đăng trình nẻo xưa
Biết bao thương nhớ cho vừa
Gửi về phương ấy mịt mờ quê hương
Chiều nay trên bến muôn phương
Có thuyền viễn xứ lên đường… lại đi…



Và như chúng ta đã biết, từ bài thơ trên, nhạc phẩm “Thuyền Viễn Xứ” đã ra đời, với giai điệu buồn mênh mang như từng đợt sóng đưa con thuyền xa bến, với những lời hát chẳng những gửi gắm niềm nhớ nhung của một triệu người rời quê cha đất tổ năm 1954, mà hơn hai thập niên sau đó sẽ lại một lần nữa gửi gắm nỗi lòng của hàng triệu người phải bỏ lại tất cả những gì yêu thương nhất trên mảnh đất quê hương để vượt biển tìm tự do và phiêu bạt nơi đất lạ quê người:

Chiều nay sương khói lên khơi – Thùy dương rũ bến tơi bời – Làn mây hồng pha ráng trời – Sóng Đà Giang thuyền qua xứ người – Thuyền ơi! viễn xứ xa xưa – Một lần qua dạt bến lau thưa – Hò ơi! giọng hát thiên thu – Suối nguồn xa vắng, chiều mưa ngàn về – Nhìn về đường cố lý – Cố lý xa xôi – Đời nhịp sầu lỡ bước – Bước hoang mang rồi – Quay lại hướng làng – Đà Giang lệ ướt nồng – Mẹ già ngồi im bóng – Mái tuyết sương mong con bạc lòng – Chiều nay gửi tới quê xưa – Biết là bao thương nhớ cho vừa – Trời cao chìm rơi xuống đời – Biết là bao sầu trên xứ người – Mịt mờ sương khói lên hương – Lũ thùy dương rủ bóng ven sông – Chiều nay trên bến muôn phương – Có thuyền viễn xứ nhổ neo lên đường…

oOo
Trong “Hồi Ký Phạm Duy” (Tập 3, ấn bản 2008), sau khi mở đầu Chương 3 “Gần hai năm đã trôi qua kể từ khi tôi bỏ vùng quê vào Hà Nội, rời miền Bắc vào miền Nam, lo ổn định nơi ăn chốn ở và thu xếp công kia việc nọ ở Sài Gòn“, nhạc sĩ Phạm Duy kể về chuyện bắt đầu sáng tác trở lại vào giai đoạn cuối năm 1952 với các ca khúc Tình Hoài Hương, Tình Ca, Bà Mẹ Quê…: “…Vào thời điểm này [trước cuộc di cư 1954] không phải chỉ có tôi viết về đất nước mến yêu hay soạn những bài hát nhớ quê hương khi đang sống trên quê hương (…) Phải sống bon chen với thực tại, thỉnh thoảng tôi muốn sống với viễn mơ. Huyền Chi, một cô em bán vải ở Chợ Bến Thành đưa cho tôi phổ nhạc bài thơ nhan đề Thuyền Viễn Xứ. Bài thơ này nói lên tâm trạng một người Bắc Việt phải rời bỏ bến Đà Giang để vào sinh sống tại miền Nam. Phổ nhạc xong bài thơ nhớ miền viễn xứ, trong tôi lại nổi dậy sự viễn mơ của bài Bên Cầu Biên Giới năm xưa, tôi bèn soạn bài Viễn Du…

Từ thời điểm bài thơ rồi bản nhạc ra đời, cho đến suốt hơn 20 năm sau đó, âm hưởng của “Thuyền Viễn Xứ” đã trở thành tiếng lòng của những người “xa quê hương”, trong số đó chắc chắn có rất nhiều người không thể ngờ rằng họ sẽ còn “xa quê hương” thêm một lần nữa trong đời, và niềm thương nhớ ngày nào hướng về “cố lý xa xôi” sẽ được nhân lên nhiều cấp số để trở thành nỗi hoài niệm không nguôi của những tâm hồn lưu lạc “gửi về phương ấy mịt mờ quê hương“.

Nhắc đến điều này để thấy “quê hương” chỉ là một ý niệm tương đối, nhưng phải chăng cũng chính vì thế mà sau bao nhiêu thử thách của thời gian, sau bao nhiêu thăng trầm của đời sống, tình hoài hương mãi mãi vẫn là một tình cảm làm đẹp và thăng hoa tâm hồn nhiều hơn là vò xé và dằn vặt tâm hồn? Trước khi quê hương cách trở cả một trùng dương, đã có một thời mà không gian ngăn chia người với quê hương chỉ là một giòng sông Đuống như miền Kinh Bắc trong thơ Hoàng Cầm, chỉ là một đường tàu Nam Bắc như xứ Hà Đông trong thơ Nguyễn Bính, chỉ là một vùng lửa đạn như thành phố Hà Nội trong nhạc Hoàng Dương… Rồi lại có một thời mà nửa mảnh đất quê hương bị cắt lìa vì một vĩ tuyến đánh dấu hai ý thức hệ đối kháng khiến người ra đi chỉ có thể “đứng bên này vĩ tuyến thương về năm cửa ô xưa” như trong thơ Tạ Tỵ nhạc Y Vân… Nhưng dù cho không gian có khác, hoàn cảnh có khác, tình hoài hương vẫn là nguồn cảm hứng để từ đó đã thoát thai biết bao nhiêu tác phẩm giá trị của kho tàng văn chương âm nhạc Việt Nam. Có lẽ bởi vì, nói cho cùng, quê hương là nơi cất giữ những kỷ niệm đẹp nhất, và nếu hình ảnh quê hương sống mãi trong lòng người thì cũng chẳng qua bởi vì đó là một tuyển tập hình ảnh của chính mình, những hình ảnh nguyên vẹn mà mỗi người khi ra đi đã mang theo và nâng niu cất giữ trong cõi riêng của tâm hồn, để có thể mở ra vào những giờ phút tĩnh lặng và tận hưởng một hạnh phúc rất riêng tư, tách biệt với mọi xô bồ, đắng cay, mệt mỏi của cuộc sống hiện tại.

Hơn nửa thế kỷ sau khi viết “Hướng Về Hà Nội“, trả lời câu hỏi về hoàn cảnh sáng tác ca khúc đã tạo nên tên tuổi của ông, nhạc sĩ Hoàng Dương nhắc lại không khí của những năm 1953-1954 và cho biết: “…Tình yêu Hà Nội trong tôi là nỗi nhớ nhung về những tháng ngày đã lùi dần vào dĩ vãng… là một Hà Nội nhỏ nhắn và dịu dàng nơi tôi đã chôn chặt mối tình thời trai trẻ…”. Sự mong manh của đời sống giữa khói lửa chiến tranh khiến cho người nhạc sĩ dù lúc ấy còn đang ở ngoại thành Hà Nội mà đã nhớ về Hà Nội như một “thành phố xa xưa”, một thành phố của “những tháng ngày đã lùi dần vào dĩ vãng”. Thế rồi chỉ một năm sau đó, Hoàng Dương lại trở về và sống ở Hà Nội, trong khi một làn sóng người rời bỏ Hà Nội để di cư vào Nam, và với họ, Hà Nội kể từ đó đã thật sự chỉ còn là quê hương trong trí nhớ, một quê hương để làm cay mắt mỗi khi nghe lời hát “dáng huyền tha thướt đê mê, tóc thề thả gió lê thê, biết đâu ngày ấy anh về…”

Một buổi tối mùa Đông nơi xứ người, tôi nhận được tấm thiệp Xuân của anh tôi gửi từ quê nhà, kèm theo bài thơ “Thuyền Viễn Xứ” của Huyền Chi in trên một trang báo cũ. Cũng khoảng thời gian ấy, qua điện thoại, chị tôi kể cho tôi nghe là trong một chuyến đi từ Sài Gòn ra Hà Nội, chị tôi đã có dịp thăm lại khu phố cũ nơi có căn nhà mà mấy chị em chúng tôi ở cùng cha mẹ trước ngày rời đất Bắc. Nửa thế kỷ đã trôi qua với hai cuộc bể dâu. Hà Nội vẫn còn đó, cũng như Sài Gòn vẫn còn đó, nhưng cha mẹ chúng tôi không còn nữa, thời thanh xuân của các chị tôi với tà áo dài và mái tóc thề thả gió trên hè phố Hà Nội cũng không còn nữa, và đứa em trai út là tôi thì chưa một lần trở về. Nghe chị tôi kể chuyện căn nhà của tuổi thơ, tôi nghĩ đến hình ảnh cha mẹ, và trong giòng kỷ niệm dạt dào, tôi nhớ ra rằng cha mẹ tôi cũng đã không một lần trở về đất Bắc. Những năm lớn lên ở miền Nam, thình thoảng tôi vẫn nghe cha tôi hát nho nhỏ những lời hát rời rạc từ một ca khúc trước 1954, “Làng Tôi” của Chung Quân. Càng về sau tôi càng cảm thông được tâm trạng của cha mẹ qua lời hát mang theo hình ảnh một quê hương trong trí nhớ, một quê hương với những nơi chốn thân yêu mà đến một thời điểm nào đó cha mẹ tôi đã có thể trở về thăm, nhưng cha mẹ tôi không trở về. Những “cây đa cao ngất từng xanh“, những “mái tranh san sát kề nhau” hay “bóng tre ru bên mấy hàng cau” có thể vẫn còn đó, nhưng không còn thôi thúc lòng người trở lại, bởi vì quê hương đã đổi thay và những tháng ngày đẹp nhất không còn nữa.






Bao nhiêu năm rồi, mỗi lần mùa xuân sắp đến ở quê nhà thì nơi tôi đang ở vẫn là mùa đông lạnh buốt và thường là tuyết phủ ngập trời. Nhưng mỗi khi nghe vang vọng “câu hát ngàn xưa, ngân lên trong một chiều mưa xứ người“, mỗi khi nghĩ đến “đường về cố lý xa xôi, nhịp sầu lỡ bước, tiếng đời hoang mang“, tôi không còn cảm thấy tâm hồn chùng xuống theo hơi gió lạnh nữa, có lẽ vì bài thơ gửi từ quê hương hay lời kể chuyện về căn nhà xưa đã mang theo tất cả tình thương yêu của các anh chị tôi để sưởi ấm cõi lòng đứa em xa xứ. Quê hương chẳng những là tuyển tập những hình ảnh đẹp nhất của một quãng đời đã sống, quê hương còn là những tình thương yêu đằm thắm không phai nhạt theo thời gian và không bị ngăn cách vì không gian. Tình hoài hương là niềm nhớ nhung khó nguôi ngoai nhưng không gây ra nỗi đau đớn mà chỉ làm đẹp thêm cho tâm hồn. Nếu lồng vào bối cảnh thời cuộc thì làm sao có thể để cho những kẻ thiếu lương tâm khai thác một tình cảm đẹp như thế thành lớp son phấn ngụy trang một mục tiêu tuyên truyền xảo trá, làm sao có thể chấp nhận để cho những kẻ đó đồng hóa ý niệm cao quý của quê hương với một chủ nghĩa hấp hối rồi nhân danh chủ nghĩa ấy để hủy hoại và dâng bán mảnh đất quê hương mà tôi yêu thương với tất cả tâm hồn.

Tôi nhớ đến lời thơ Nguyễn Bính “Bốn bể vẫn chưa yên sóng gió, Xuân này em chị vẫn tha hương, Vẫn ăn cái tết ngoài thiên hạ, Son sắt say hoài rượu viễn phương“. Có một mùa xuân nào đó, Nguyễn Bính đã trở về để rồi chết trên một quê hương mà tôi tin chắc là ông đã không tìm thấy lại. Nếu cuộc trở về buồn bã như thế thì tình hoài hương của những người mượn lời thơ Huyền Chi “Biết bao thương nhớ cho vừa, gửi về phương ấy mịt mờ quê hương” phải chăng lại là một niềm hạnh phúc?

Đào Trường Phúc

2-2012

Nguồn: http://sangtao.org/2012/02/22/thuyen-vien-xu-trong-tam-thuc-hoai-huong/

Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2012

Giới thiệu trang web Âm Nhạc Online ( Amnhac.fm )

Bạn,

Tôi viết vội vài dòng để giới thiệu đến bạn một trang web rất gọn ghẽ, có nhiều bài sưu tầm lẫn của người cộng tác. Tình cờ đi search nhạc thì tôi tìm thấy web này.

http://amnhac.fm/

xem nhanh sơ đồ của cả web


http://amnhac.fm/index.php/so-do-trang-web



Tôi cũng có hân hạnh được chép về một vài bài bên ấy.

http://amnhac.fm/index.php/bai/414-nhac-ngoai-quoc/4624-nhung-bai-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-cua-nha-bao-nghe-si-truong-ky

http://amnhac.fm/index.php/bai/165-le-uyen-phuong/4619-qchieu-phi-truongq-mot-tieu-bieu-cua-cach-viet-nhip-dieu-trong-nhac-le-uyen-phuong


http://amnhac.fm/index.php/bai/196-pham-duy/4620-tim-hieu-nghe-thuat-sang-tac-nhac-qua-ca-khuc-qhoa-rung-ven-songq-cua-nhac-si-pham-duy

v.v.

Nhờ trang ấy mà tôi đã biết một bài viết hay, về anh Duy Cường mà tôi rất mến mộ. Trang nhạc tôi phụ làm với anh ( http://www.duycuong.com ) cũng xuất hiện trên liên mạng vậy là gần 10 năm rồi, 2002, khi tôi còn đang học computer science UCI và vò vẽ tập làm web với HTML.

http://amnhac.fm/index.php/bai/90-duy-cuong/3199-duy-cuong-phu-thuy-hoa-am


Tôi rất thích bài viết mới nhất của cộng tác viên Ngọc Dung, ghi lại cảm nghĩ về lời dịch bài Khúc Hát Thanh Xuân.

http://amnhac.fm/index.php/blog/ngoc-dung/4696-khuc-hat-thanh-xuan

Mong bạn sẽ tìm thấy nhiều điều thú vị với trang web trên.

Thân mến,

Hoctro.

Thứ Sáu, 18 tháng 11, 2011

Nghĩ quanh quẩn về chủ đề "mưa" trong nhạc phẩm "Mưa Rơi" của nhạc sĩ Phạm Duy

Bạn,

Nhạc sĩ Phạm Duy có biệt tài là lôi những chi tiết, hình ảnh tầm thường ra, đặt chúng lên bàn mổ xẻ, suy nghĩ, chiêm nghiệm. Tôi có thể kể vô số những bài nhạc nổi tiếng chỉ dựa trên những đề tài như vậy: "Đường Chiều Lá Rụng", "Nước Mắt Rơi","Mộng Du", "Chiều Về Trên Sông", hay những bài tôi có đọc lời mà chưa có dịp nghe kỹ lưỡng như "Một Bàn Tay", "Những Bàn Chân", v.v. Về sau này, nhạc sĩ làm ra hẳn những chủ đề riêng như Bé Ca, Nữ Ca, vì một bài thì không thể nói hết được những ý tưởng như "Ông Trăng Xuống Chơi", "Chú Bé Bắt Được Con Công", "Bé Bắt Dế", hay những chi tiết nhỏ nhặt như khói nhóm lửa trong "Đốt Lá Trên Sân", chỉ một ngọn lửa âm ỉ với làn khói trắng thôi mà ông đã mô tả thật tuyệt diệu là:

Khói, khói lên nhỏ nhoi
Khói lên nhẹ hơi, khói lên lả lơi
Khói, khói lên đầy vơi
Khói lên tả tơi, khói lên mù khơi
Khói, khói lên đẹp ngời.


v.v. và v.v.

Theo tôi, sở dĩ có được một "repertoire" đa dạng như vậy là vì nhạc sĩ dám thử lửa, không những thử chỉ một bài, mà đã làm là làm luôn 10 bài. Không những viết Đạo Ca mà sau đó "chơi" luôn cả Tục Ca, không những viết Bé Ca mà còn đảm nhiệm luôn Nhục Tình Ca. Tính cách đó mới thật là của một người nghệ sĩ chân chính, không sợ dư luận mỉa mai hay chê cười, vì "đường ta ta cứ đi, nhà ta ta cứ xây." Đó là một tính cách tự đạp đổ những gì mình đã xây ra, và luôn luôn làm mới con đường nghệ thuật của mình, không tự mình lắp con đường phía trước bằng những rào cản từ thành quả mình dày công xây dựng nên.

Trong khi những nghệ sĩ khác tự bó buộc vật liệu sáng tác của mình lại, như danh họa Chuck Close bỏ hết màu, chỉ vẽ tranh đen trắng, Piet Mondrian chỉ vẽ tranh bằng những hình chữ nhật với một lối phối màu nhất định, nhạc sĩ Phạm Duy la cà hết tất cả các chủ đề từ mưa tới nắng, bà già tới em bé, v.v. và v.v. Ai cũng có hay riêng, nhưng một người dám nới rộng địa bàn sáng tác của mình, không chỉ bó buộc trong "thân phận con người" chẳng hạn, thì tôi càng phục tài bội phần.

Nãy giờ nói chuyện lan man, ngắn gọn lại tôi muốn gửi đến các bạn bản nhạc "Mưa Rơi", phát hành trước 1975, rồi sau đó cùng ngồi lại chiêm nghiệm nhạc sĩ đã viết về chủ đề "mưa" ra sao.

***




***

Mời nghe Mưa Rơi - Hồng Hạnh trình bày

***

Mưa Rơi

(Saigon-1960)

Mưa rơi từ nghìn xưa, 
mưa rơi về nẻo mơ
Mưa đem sầu Thiên Thu đến cho ta

Mưa đi từ tuổi thơ, 

mưa theo cuộc tình tơ
Mưa rơi bạc đầu ai mong nhớ ...

mưa.

Mưa rơi từ nguồn xa, mưa tuôn về bao la
Mưa chia dòng lệ ra chín con thơ


Mưa trôi về đời ta, 

mưa xây nhà âm u
Mây giăng vải màn sô nuôi giấc mơ.


Mưa rơi vào lòng ta ! 

Mưa rơi vào tình ta !
Có hay chăng là mưa rơi vì chúng ta.
Mưa rơi, và còn rơi ! 

Không bao giờ mưa ngơi
Không bao giờ ta nguôi yêu người ơi !

Mưa rơi ngoài đường đêm, 

đưa em về nhà em
Mưa vui mừng quấn quýt dưới chân êm


Mưa rơi lạnh trời đen, 

mưa trong lòng lên men
Mưa cho lửa tình thêm chút yếu mềm.


Mưa rơi ngoài hè đêm, như đôi bàn tay tiên
Ru nhe nhẹ một ca khúc không tên


Mưa to nhỏ triền miên, 

mưa trên đầu vô biên
Mây ấp ủ tình duyên thêm vững bền.


Mưa rơi vào lòng ta ! 

Mưa rơi vào tình ta !
Có hay chăng là mưa rơi vì chúng ta.
Mưa rơi, và còn rơi ! 

Không bao giờ mưa ngơi
Không bao giờ ta nguôi yêu người ơi !


***

Khác với nhiều bài đi từ cái riêng đến cái chung, bài này nói quanh co từ thời thượng cổ lan man đến tương lai, từ lúc còn thơ dại cho tới lúc biết yêu, rồi tới khi đi về lòng đất lạnh, lúc nào mưa cũng ở với ta:


Mưa rơi từ nghìn xưa, mưa rơi về nẻo mơ
Mưa đem sầu Thiên Thu đến cho ta

Mưa đi từ tuổi thơ, mưa theo cuộc tình tơ
Mưa rơi bạc đầu ai mong nhớ mưa.



Bài nhạc này nếu để ý bạn sẽ thấy có bao nhiêu câu là có bấy nhiêu chữ mưa, do đó chữ mưa chiếm ít nhất 15% tổng số chữ của bản nhạc! Vì sao vậy, vì ai ở Sài gòn rồi thì biết, mưa liên miên, giờ này qua giờ nọ, rơi lộp độp rồi mạnh bạo trên mái tôn, nước mưa tuôn tràn máng hứng nước, lênh láng lòng đường. nếu cộng thêm chữ "rơi" vào nữa thì chắc hai chữ trên chiếm ít nhất 20% số chữ, vậy mới đúng là mưa rơi kiểu Sài gòn, lênh láng từ đầu tới cuối bản nhạc!

Hãy xem tác giả viết đôi dòng về nhạc phẩm "Mưa Rơi":

"Trong thời gian đầu của cuộc tình, tôi soạn những bài xưng tụng tình yêu của chính tôi. Tôi thường đưa người yêu đi học trong khi mưa rơi trên phố xá Saigon ban chiều hay ban đêm. Là vạn cổ sầu của Ðặng Thế Phong, mưa rơi đối với tôi cũng là sầu thiên thu, nhưng còn là hạnh phúc địa đàng nữa..." (Phạm Duy - Ngàn Lời Ca)

Mưa không chỉ là một hình tượng, sự kiện, mưa còn được mô tả thật đẹp như nguồn cung cấp nước vô tận của thiên nhiên cho dòng Cửu Long để nuôi sống Miền Nam nước Việt. Và cũng như mưa, mây được hình tượng hóa thành một vải màn sô giăng lên để nuôi dưỡng những giấc mơ hiền lành và êm đẹp.

Thế rồi, nhạc sĩ đặt câu hỏi:


Mưa rơi vào lòng ta ! 
Mưa rơi vào tình ta !
Có hay chăng là mưa rơi vì chúng ta.


Phải chăng mưa chỉ là điều ngẫu nhiên, không liên can gì đến chúng ta, hay mưa có mục đích là mưa xảy ra là vì chúng ta, là để giúp chúng ta? Câu hỏi này coi bộ khó, vì nó mang tính triết học, nhưng dầu sao đi nữa, câu hỏi đã được bật ra, chúng ta "take it for granted", coi mưa như là "chuyện thường ngày ở huyện", nếu ngày nào đó mưa không rơi nữa thì sao???

Thì nhớ quay quắt về một thời thơ ấu tắm mưa Sài gòn chứ sao nữa! khi nơi chốn Tiểu Sài Gòn mình đang ở hầu như mỗi năm chỉ mưa khoảng mươi, mười lăm ngày là cùng!!! Không bao giờ ta nguôi yêu người ơi ! Với tôi "người ơi" ở đây còn gì khác hơn là những trận mưa hè dai dẳng, là nỗi nhớ Sài gòn xưa không bao giờ nguôi.

Sang đoạn hai,

Mưa rơi ngoài đường đêm, 
đưa em về nhà em
Mưa vui mừng quấn quýt dưới chân êm


Mưa rơi lạnh trời đen, 

mưa trong lòng lên men
Mưa cho lửa tình thêm chút yếu mềm.


Cái này sao tôi thấy coi bộ "đường xa ướt mưa", sao ... anh không ở lại đây .. cho đến hết cơn mưa rồi hẵng zìa???? Mà cứ mưa triền miên dzậy thì làm sao ... zìa đây ???? Cứ đọc thêm đoạn kế tiếp là biết liền, vì mưa rơi ngoài hè đêm, còn mình ở trong nhà mà, mưa trên đầu vô biên không biết bao giờ mới hết ... mưa.

Mưa rơi ngoài hè đêm, như đôi bàn tay tiên
Ru nhe nhẹ một ca khúc không tên


Mưa to nhỏ triền miên, 

mưa trên đầu vô biên
Mây ấp ủ tình duyên thêm vững bền.


***

Vì cả bài nhạc xoay quanh và lặp đi lặp lại chủ đề "mưa" như vậy, theo đúng binh pháp thì nhạc cũng phải xoay quanh một trụ, chứ không được chạy lan man. Trong bài nhạc một dấu giáng này, cái trụ đó không có gì khác hơn là hợp âm Re thứ Dm, mà trong đó nốt chính là nốt chủ âm Re. Trong các bài nhạc, thường thì nhạc có khuynh hướng đi lên, sau đó đi xuống, bài này nói chung cũng không là ngoại lệ, nhưng bạn thấy câu đầu khác cái ở chỗ là nó bắt đầu từ Re, sau đó đi xuống Si và La rồi trở lên lại Re, có lẽ mục đích để theo lời ca bắt nguồn từ nghìn xưa, từ tuổi thơ, trước khi đến thời đểm hiện tại là nốt chủ âm Re trưởng.





Sau đó, nhạc tuần tự như tiến đi theo hợp âm Re thứ từ từ lên nốt Fa, nốt La, rồi đến nốt Si rồi cuối cùng trở về nốt La. Tôi nghĩ mục đích của chuyển động này là tạo cảm giác như cơn mưa dầm dề, lê thê, dâng từ từ



Cái đặc biệt trong nhạc Phạm Duy là bài nào ông cũng tìm cách làm mới lạ hơn các bài đã làm, lần này ông "để" vào một chuyển cung. Trong bài, chỗ chuyển cung đó bất chợt rơi vào giữa đoạn, khi tác giả cho hợp âm "chùng" xuống cả ba nốt Re Fa La một quãng hai (whole step) thành Do Mi b Sol, tức là giới thiệu thêm hai nốt Mi giáng và La giáng vào bài nhạc.



Cái thú vị là nhạc sĩ chỉ chuyển cung một trường canh thôi, sau đó nhạc lại trả về cung Re thứ như cũ, nhưng cũng đủ làm cho ta xốn xang, bồi hồi, hệt như khi ta hít vào mùi ẩm ướt của đất khi được mưa chợt tuôn trào.

Sau khi hát đủ hai phiên khúc, với khoảng cách giữa các nốt cố tình làm cho không lớn hơn quãng 3, nhạc sĩ đã taọ một không khí thật khác lạ bằng cách đẩy các nốt nhạc lên một bát độ, đồng thời tạo nên nhiều quãng lớn (La đến Ré: lòng ta), nghe rõ là quãng bốn hơn vì ở hẳn một bát độ cao hơn, không như ở phiên khúc, hoặc rải nhanh các nốt từ Ré xuống Re chỉ trong 4 nốt (câu: có hay chăng là ..) Đây là thủ pháp làm điệp khúc tương phản rõ nét với phiên khúc, một đằng thì nốt dưới thấp và quãng nhỏ, một đằng thì nốt cao và quãng nhảy lớn.


Cuối cùng, để tri ân và khẳng định lòng yêu thương và biết ơn thiên nhiên thông qua hình tượng mưa, nhạc sĩ cho ta đi lại từ đầu phiên khúc với gần trọn nửa đoạn đầu, chỉ thay đổi ba nốt cuối cao vút lên đến nốt Ré, có lẽ là nốt biểu tượng cho mưa trên đầu vô biên, mây giăng vải màn sô nuôi giấc mơ!



Vì trong điệp khúc cũng có phần lớn phiên khúc, như đã mô tả ở trên, khi hát xong bài ta thấy đoạn nhạc

Mưa rơi từ nghìn xưa, mưa rơi về nẻo mơ
Mưa đem sầu Thiên Thu đến cho ta

được nhắc đi nhắc lại sáu lần, vậy là mưa dầm dề rồi chứ còn gì nữa. Tuy vậy, cú chuyển cung sang Do thứ ở giữa phiên khúc đã làm người nghe không cảm thấy chán nản vì sự lặp đi lặp lại này, ngược lại làm bài nhạc tươi mát hẳn đi.

Bài viết đã khá dài, tôi cũng đã viết xuống hết các ý cần trình bày. Cảm ơn bạn đã ráng đọc bài tới lúc cuối. Hẹn gặp lại bạn trong một lần tản mạn nhạc Phạm Duy khác.

Thân mến,

Hoctro
11.18.11
http://hoctroviet.blogspot.com

Thứ Ba, 15 tháng 11, 2011

Vài cảm nghĩ về "Kiếp Nào Có Yêu Nhau" Thơ Hoài Trinh Nhạc Phạm Duy

Bạn,

Tiếp tục mạch suy nghĩ về dòng nhạc Phạm Duy, bài nhạc kế tiếp tôi muốn đề cập là bài "Kiếp Nào Có Yêu Nhau", thơ của văn sĩ Minh Đức Hoài Trinh.


 Tôi hỏi và được nhạc sĩ gửi tặng một số nhạc phẩm scan lại từ trước 1975, trong đó có bài này, kể cả trang đầu có bức họa thật đẹp. Mời bạn cùng xem bài thơ, nhạc với notes, và lời bài hát.

***

Kiếp Nào Có Yêu Nhau

Minh Đức Hoài Trinh

Anh đừng nhìn em nữa
Hoa xanh đã phai rồi
Còn nhìn em chi nữa
Xót lòng nhau mà thôi .

Người đã quên ta rồi
Quên ta rồi hẳn chứ
Trăng mùa thu gãy đôi
Chim nào bay về xứ .

Chim ơi có gặp người
Nhắn giùm ta vẫn nhớ
Hoa đời phai sắc tươi
Đêm gối sầu nức nở .

Kiếp nào có yêu nhau
Nhớ tìm khi chưa nở
Hoa xanh tận ngàn sau
Tình xanh khong lo sợ .

Lệ nhòa trên gối trắng
Anh đâu, anh đâu rồi
Rượu yêu nồng cay đắng
Sao cạn mình em thôi ?


Nguồn: Đặc Trưng

***




***

"Kiếp Nào Có Yêu Nhau" 

Thơ Hoài Trinh
Nhạc Phạm Duy

Đừng nhìn em nữa anh ơi
Hoa xanh đã phai rồi
Hương trinh đã tan rồi


Đừng nhìn em, 

đừng nhìn em nữa anh ơi
Đôi mi đã buông xuôi, 

môi răn đã quên cười.

Hẳn người thôi đã quên ta
Trăng Thu gẫy đôi bờ
Chim bay xứ xa mờ.


Gặp người chăng, 

gặp người chăng, 
nhắn cho ta
Hoa xanh đã bơ vơ 

đêm sâu gối ơ thờ.

Kiếp nào có yêu nhau
Thì xin tìm đến mai sau
Hoa xanh khi chưa nở
Tình xanh khi chưa lo sợ
Bao giờ có yêu nhau
Thì xin gạt hết thương đau
Anh đâu anh đâu rồi?
Anh đâu anh đâu rồi?

Đừng nhìn nhau nữa anh ơi
Xa nhau đã xa rồi, 

quên nhau đã quên rồi

Còn nhìn chi, 

còn nhìn chi nữa anh ơi
Nước mắt đã buông rơi 

theo tiếng hát qua đời
Đừng nhìn nhau nữa... anh ơi!



***

Mời thưởng thức Kiếp Nào Có Yêu Nhau - trình bày: Bác Sĩ Bích Liên - Hòa âm Duy Cường

 ***

Khác với bài "Hoa Rụng Ven Sông" (mà tôi đã lần đầu tập phân tích nhạc Phạm Duy cách đây gần tròn sáu năm), nhạc sĩ chỉ uốn ý có sẵn cho phù hợp với giai điệu, trong bài này ta thấy nhạc sĩ cho thêm nhiều chữ, nhiều chi tiết. Từ:

Anh đừng nhìn em nữa
Hoa xanh đã phai rồi
Còn nhìn em chi nữa
Xót lòng nhau mà thôi .


thành cả một nửa của phiên khúc:

Đừng nhìn em nữa anh ơi
Hoa xanh đã phai rồi
Hương trinh đã tan rồi

Đừng nhìn em, 

đừng nhìn em nữa anh ơi
Đôi mi đã buông xuôi, 

môi răn đã quên cười.

Cấu trúc thơ đã được đẽo gọt lại để hợp với cấu trúc nhạc. Tôi đoán rằng nhạc sĩ đã ngân nga được cái motif "Đừng nhìn em nữa anh ơi" và cái motif cân bằng thứ hai là "Hoa xanh đã phai rồi Hương trinh đã tan rồi", và chọn nó làm sườn bài chính của nhạc khúc. Caí cấu trúc này rất logic, nó khởi đầu bằng một câu tán thán với một cung nhạc rải vút lên (appergiated) "Đừng nhìn em nữa anh ơi", rồi chứng minh ngay lời cầu khẩn đó bằng hai câu nhạc tương tự nhau là  "Hoa xanh đã phai rồi" "Hương trinh đã tan rồi". Bạn cũng nên để ý đến cái cách để một cung nhạc trên từng câu nhạc mà tiếng Anh gọi là "slur" (tôi không biết tiếng Việt gọi là gì) gợi ý ca sĩ phải hát liền lạc từng câu nhạc đó, chứ không được ngắt ra nhát gừng.




Sang phần hai của phiên khúc, ta thấy nhạc sĩ đã làm tăng kich tính của câu nhạc bằng cách kheó léo nhắc lại motif nhưng với một biến thể là thêm vào ba nốt Đừng nhìn em (Là Mi Lá) trước khi lên đến nốt Mí rồi trả lại nốt Ré. Rất phù hợp với lời nhạc có tính cách van xin, vì có ai van xin một câu rồi thôi? Bạn thử hát đoạn hai, nhưng bỏ bớt ba chữ đầu, chỉ hát "Đừng nhìn em nữa anh ơi", bạn sẽ thấy bài nhạc kém hay hẳn đi.

Vì cấu trúc nhạc đã xác định, nhạc sĩ phải điền vào hai chi tiết mới là "Đôi mi đã buông xuôi," "môi răn đã quên cười" để làm câu nhạc đối xứng với nửa đoạn ở trên.

Đoạn phiên khúc thứ hai cũng vậy, từ:

Người đã quên ta rồi
Quên ta rồi hẳn chứ
Trăng mùa thu gãy đôi
Chim nào bay về xứ .


Chim ơi có gặp người
Nhắn giùm ta vẫn nhớ
Hoa đời phai sắc tươi
Đêm gối sầu nức nở .


Nhạc sĩ đã xắp xếp, thêm bớt chữ để đoạn trở thành

Hẳn người thôi đã quên ta
Trăng Thu gẫy đôi bờ
Chim bay xứ xa mờ.


Gặp người chăng, 

gặp người chăng, 
nhắn cho ta
Hoa xanh đã bơ vơ 

đêm sâu gối ơ thờ.

Tiếp theo, trong điệp khúc, tiết tấu đã thay đổi từ


thành

tạo một cảm giác khang khác tuy cách dùng 4 móc đơn vẫn là cách dùng chính của bài nhạc.

Điệp khúc cũng cho thấy, đôi khi chả cần suy nghĩ nhiều, chỉ cần dùng lại ý nhạc trước, vốn dĩ đã hay rồi, và lặp lại nguyên xi là ta sẽ có một câu nhạc hay. Bạn thấy trường canh sau y hệt trường canh đầu.


Sự lặp lại không chỉ có trong nhạc, mà cũng còn trong lời nhạc nữa. Bài thơ không có sự lặp lại này.






Đó, bạn thấy đó, phổ từ thơ thành nhạc khó lắm chứ đâu phải là thấy một bài thơ hay, rồi thêm nốt vào, ê a là xong bài nhạc, như tôi đã và đang sampling hằng hà sa số trên thế giới ảo này?


Hẹn bạn kỳ tản mạn sau.


Hoctro
11.15.2011

Chủ Nhật, 13 tháng 11, 2011

Vài cảm nghĩ về nhạc phẩm "Rong Ca 1 - Người Tình Già Trên Ðầu Non" của ns Phạm Duy

Bạn,

Lang thang trên mạng, suy nghĩ về thân phận mong manh của con người, tôi dừng lại trước một bài hát mà tôi luôn ngưỡng mộ, nhưng đã không bỏ vào trong trang Phạm Duy - Những Tình Khúc Của Một Đời Người do chính tôi làm HTML và đăng trên trang phamduy.com circa 2004.



Bài này là bài đầu tiên cùa mười bài Rong Ca, mà tôi đã mua CD khoảng năm 1999-2000, khi chưa được tiếp xúc làm quen với anh Cường và Bác Duy.


Rong Ca 1
Người Tình Già Trên Ðầu Non
(Hoá Sinh)


(Cựu Kim Sơn-Tháng Giêng 88)


Người tình già trên đầu non
Tuyết đã tan trên vai mỏi mòn
Giữa đám mây xanh xao chập chờn
Nhìn mặt trời thoi thóp hoàng hôn
Người tình già trên đỉnh khơi
Muốn lãng quên trăm năm một đời
Nhưng dưới thế gian mông mênh vời vợi
Người chợt nghe tiếng em chờ đợi.
ÐIỆP KHÚC
'' Người tình già trong lẻ loi
Có nhớ thương.... ai ? ''

Người tình già nghe lời kêu
Lững thững đi trên con đường chiều
Xuống lũng sâu, leo qua ngọn đèo
Về một miền phơn phớt cỏ nâu
Người tình còn nhớ tuổi son
Cúi xuống hôn bông hoa thật gần
Nghe suối vẫn reo trong hang rì rầm
Người tưởng nghe tiếng em thì thầm...
ÐIỆP KHÚC
'' Ðợi người tình đã từ lâu
Vẫn khát khao... nhau ''

Người từng là nắng mùa Xuân
Ðã dắt em đi trên đường trần
Ðã vuốt ve em trong Hạ mềm
Rồi lạnh lùng Thu đến... lìa em
Người trở thành cây mùa Ðông
Lá úa rơi vun cao cội nguồn
Nhưng cuối bước đi trăm năm một lần
Ðầu cành khô bỗng hoa nở tràn
ÐIỆP KHÚC
Người tình vào cuộc tử sinh
Sống chết lung... linh.

Thành người tình đang trẻ ngây
Sẽ đứng lên mê say từng ngày
Cất bước Xuân đi qua Hạ dài,
Người hẹn người leo thế kỷ chơi
Một đời người trong tầm tay
Sống với nhau hơn ba vạn ngày
Xin cố gắng nuôi sao cho tình đầy
Chẳng vì Thu với Ðông, ngần ngại
ÐIỆP KHÚC
Và người tình ngoảnh về non
Hát khúc Xuân... sang.
CODA
Rồi hẹn rằng sẽ về thăm
Lúc đã trăm... năm
Và người tình sẽ từ khơi
Xuống núi vui... chơi
Rồi lại từng thế kỷ sau
Cứ hoá sinh... theo.

***

Người tình già trên đầu non
Tuyết đã tan trên vai mỏi mòn
Giữa đám mây xanh xao chập chờn
Nhìn mặt trời thoi thóp hoàng hôn

Chỉ với bốn dòng, ns Phạm Duy đã mô tả rất tài tình một khung cảnh bao la vời vợi, của một người tình già đứng một mình trên đỉnh núi, nhìn về phương trời xa, nơi ánh dương đang lụi tàn, hệt như đời mình sắp đi vào chung cuộc. Nơi ta đứng cô đơn quá, vì chỉ có ta với ta mà thôi, ân oán giang hồ, vinh nhục cũng đã nhiều, hiểu ta cũng chẳng có ai khác, ngoài ánh dương cũng đang lụi tàn, thoi thóp, hoặc đám mây xanh xao chập chờn ...


Người tình già trên đỉnh khơi
Muốn lãng quên trăm năm một đời
Nhưng dưới thế gian mông mênh vời vợi
Người chợt nghe tiếng em chờ đợi.

Cô đơn quá, cả ba câu tiếp theo cũng vẫn cái mênh mông, mê mê tỉnh tỉnh giữa sống và chết, mộng và thực đó, thì ở câu cuối người tình già chợt thấy lóe lên một niềm hy vọng: Em. Em ở đây thật có nhiều nghĩa: người vợ, những người tình cũ, âm nhạc và nàng Thơ, cuộc đời với những vinh nhục, followers/(likes:-) ... tất cả quyện lấy nhau tạo một niềm hy vọng nơi người tình già.

' Người tình già trong lẻ loi
Có nhớ thương.... ai ? ''

Đấy, các followers hỏi  người tình già có còn nhớ đến họ chăng, nàng thơ năm xưa hỏi ông có còn nhớ đến "vạt tóc nâu xưa, từng cánh hoa khô" hay không, và Chị Hằng thì hỏi thăm Chú Cuội vẫn còn quên đường về dương gian hay không?

Ánh trăng vàng
Bên người đẹp yêu chồng
Khúc Nghê Thường
Quên đường về dương gian (Chú Cuội
- Phạm Duy)

 Đoạn lời nhạc tiếp theo là một tiếp nối của Cỏ Hồng khi xưa:  

Em ơi ! Ðây con đồi dài, 
như bao nhiêu mộng đời 
Nghiêng nghiêng nghe mặt trời yêu đương. (Cỏ Hồng - Phạm Duy)

Cũng với tâm thức "rũ áo nơi đô thành" ấy, lần này người tình già đã

... nghe lời kêu
Lững thững đi trên con đường chiều
Xuống lũng sâu, leo qua ngọn đèo
Về một miền phơn phớt cỏ nâu
Người tình còn nhớ tuổi son
Cúi xuống hôn bông hoa thật gần
Nghe suối vẫn reo trong hang rì rầm
Người tưởng nghe tiếng em thì thầm...

Ta với đời vẫn còn nợ nhau nhiều đấy chứ, dẫu tạ ơn đời bao nhiêu vẫn chưa đủ.Vậy nên chăng ta vẫn còn khát khao nhau?

'' Ðợi người tình đã từ lâu
Vẫn khát khao... nhau ''

Tôi vẫn thường khâm phục những nhạc sĩ viết trọn bốn mùa trong một bài hát, một đoạn hát, hay một concerto, nhưng tôi vẫn khâm phục cách viết của ns Phạm Duy nhất, khi bốn mùa được gói trọn trong một phiên khúc, cùng ẩn tàng thật nhiều ý nghĩa:

Người từng là nắng mùa Xuân
Ðã dắt em đi trên đường trần
Ðã vuốt ve em trong Hạ mềm
Rồi lạnh lùng Thu đến... lìa em
Người trở thành cây mùa Ðông
Lá úa rơi vun cao cội nguồn
Nhưng cuối bước đi trăm năm một lần
Ðầu cành khô bỗng hoa nở tràn

 Trong cái chết, dậy lên Sự Sống mãnh liệt của những nụ hoa nở tràn, hệt như trong bài diễn văn của Steve Jobs: "bởi chưng Sự chết là sáng chế tuyệt vời, độc nhất vô nhị của Sự sống. Nó là tác nhân làm thay đổi Sự Sinh Tồn. Nó dẹp bỏ đi những gì cũ kỹ để dọn chỗ cho cái mới tiếp vào." Giời ạ! Nhìn qua bên phải bên trái, chỗ nào cũng có tí Thiền, thế lày là thế lào?


Vâng, theo luật tử sinh, luân hồi thì ai cũng sẽ thành một kiếp sống khác, cỏ cây hay thú vật, và lại một "bốn mùa" thật tuyệt diệu khác nữa của nhạc sĩ, kể cả vòng kim cô luân hồi đã báo trước với "Hát khúc Xuân... sang" ở cuối câu.



Thành người tình đang trẻ ngây
Sẽ đứng lên mê say từng ngày
Cất bước Xuân đi qua Hạ dài,
Người hẹn người leo thế kỷ chơi
Một đời người trong tầm tay
Sống với nhau hơn ba vạn ngày
Xin cố gắng nuôi sao cho tình đầy
Chẳng vì Thu với Ðông, ngần ngại
 ...
Và người tình ngoảnh về non
Hát khúc Xuân... sang.

Từ cõi khơi chừng, một chữ làm nên một cuộc đối thoại âm nhạc hy hữu, nhạc sĩ Phạm Duy cố gắng hứa với đời rằng sẽ thỉnh thoảng về thăm,


Rồi hẹn rằng sẽ về thăm
Lúc đã trăm... năm
Và người tình sẽ từ khơi
Xuống núi vui... chơi
Rồi lại từng thế kỷ sau
Cứ hoá sinh... theo.

 Trong cả bài nhạc, duy nhất chỗ này theo tôi là chỗ hơi gượng ép, tuy rất phóng khoáng. Tôi cảm thấy bài nhạc sẽ hay hơn nếu người tình già đừng hứa như vậy. Kết có hậu quá. Tôi mà viết đoạn đó, tôi sẽ cho người tình già đi chơi những cõi khác như Hoa Kỳ, Âu Châu, Úc Châu luôn, thiếu gì những chỗ khác để thăm, và khỏi thèm nghe những lời đường mật rủ rê về thăm chốn cũ. Hóa Sinh thì trời bắt đi đâu phải đi đó, chứ đâu có quyền chọn, quyền hứa :-) Nhưng tôi đâu phải là người tình già? Nên tôi cũng không thể trách người tình già, tôi chỉ biết tạ ơn đời, tạ ơn người tình già đã cho tôi biết một dòng nhạc kiệt xuất, để tôi có thể ngân nga trong trí tưởng mỗi khi chiêm nghiệm về cuộc sống.

Hẹn bạn kỳ tản mạn sau.

Hoctro
http://hoctroviet.blogspot.com/
11.13.11


Thứ Sáu, 11 tháng 11, 2011

11.11.11 - Vài cảm nhận nhỏ về bài "Cho Nhau"

Tôi post vội một post nhanh trước khi đi làm. hôm nay thật là ngày đặc biệt, 100 năm mới có một lần: sáu con số một, lần trước là 11.11.1911.

Have a great day!

***




***

CHO NHAU

Cho nhau chẳng tiếc gì nhau
Cho nhau gửi đã từ lâu
Cho nhau cho lúc sơ sinh ngày đầu
Cho những hoa niên nhịp cầu
Ðưa tuổi thơ đến về đâu ?
Cho nhau nào có gì đâu !
Cho nhau dù có là bao
Cho nhau cho phút yêu đương lần đầu
Cho rất luôn luôn cuộc sầu
Cho tình cho cả niềm đau.
Cho nhau làn tóc làn tơ
Cho nhau cả mắt trời cho
Cho nhau tiếng khóc hay câu vui đùa
Cho chiếc nôi cho nấm mồ
Cho rồi xin lại tự do.

Cho nhau ngòi bút cùn trơ
Cho nhau đàn đứt đường tơ
Cho nhau cho những câu thơ tàn mùa
Cho nốt đêm mơ về già
Cho cả nhan sắc Nàng Thơ.
Cho nhau tình nghĩa đỏ đen
Cho nhau thù oán hờn ghen
Cho nhau, xin nhớ cho nhau bạc tiền
Cho cõi âm ty một miền
Cho rồi cho cả đời tiên.
Cho nhau này dãy Trường Sơn
Cho nhau cả bốn trùng dương
Quê hương xin vẫn cho nhau như thường
Cho dứt tay chia đôi đường
Cho rồi, xin chẳng còn vương !

 ****

Trước và sau đợt tình khúc tìm nhau, dìu nhau, kiếp nào có yêu nhau, đừng xa nhau... tôi còn soạn thêm dăm ba bài hát trước khi chúng tôi xa nhau. Trước hết là bài CHO NHAU. Trong bài này tôi muốn được dâng cho người yêu tất cả, không thiếu một thứ gì, chỉ xin giữ lại một điều: đó là sự tự do cho nhau. (Nhạc Sĩ Phạm Duy)

Trích từ Phạm Duy Tổng  Quát - Chương Tiếp Tục Ði Tiếp Tục Yêu

***

Bài nhạc này là một bài được xếp vào loại nhạc tình theo như lời tác giả, nhưng khi đọc kỹ tôi thấy nó áp dụng cho tất cả mọi thứ tình cảm trên đời này. Tình yêu thương Bố Mẹ, người vợ hiền và con cái, thương anh em trong nhà cũng như bạn bè, đồng loại, tình thương thiên nhiên, với một tấm lòng bao dung, yêu mà không cần được yêu lại. Thật ra mà nói, lời nhạc của bài này thật nhẹ nhàng mà cũng thật thâm trầm, mỗi chi tiết đi từ cái khởi đầu đến cái tận cùng: Cho chiếc nôi cho nấm mồ. Và tiếp theo là một nghịch lý: Cho rồi xin lại tự do. Trước đó, phải kể đến một khởi thủy đến tận cùng khác:  

Cho nhau cho lúc sơ sinh ngày đầu
Cho những hoa niên nhịp cầu 

Ðưa tuổi thơ đến về đâu ?

Cho nhau, cũng là một lời căn dặn chỉ cho nhau tình nghĩa, chứ chẳng nên cho bạc tiền, vì nó sẽ kéo theo cả một trùng trùng bể khổ: 

Cho nhau, xin nhớ cho nhau bạc tiền 
Cho cõi âm ty một miền 
Cho rồi cho cả đời tiên.

Rồi sau rốt:

Cho nhau này dãy Trường Sơn
Cho nhau cả bốn trùng dương
Quê hương xin vẫn cho nhau như thường
Cho dứt tay chia đôi đường
Cho rồi, xin chẳng còn vương !


Tại sao tôi đã cho những người ở lại cả mảnh đất Mẹ để dứt lòng ra đi, mà hai chục năm sau vẫn còn vương vấn với những dòng chữ Việt, những lời nhạc Việt, với suy nghĩ và cảm tính Việt, trong khi hằng ngày thì nói và viết bằng Anh ngữ, chỉ trừ khi thỉnh thoảng tán dóc với đồng nghiệp người Việt ngồi gần bên?  Tại sao tôi đã dứt tay chia đôi đường, thậm chí không muốn trở về vì Sài thành chẳng còn gì như năm xưa, trước Nhà Hát Thành Phố thì có hai bà tây ngực trần, Givral thì đã bị đóng cửa, v.v. và v.v. ? Có lẽ là vì tôi còn quá sợ hãi vì những gì đã xảy ra cho gia đình tôi, bên nội thì di tản, bên ngoại thì tù cải tạo, v.v và v.v. Tôi vẫn còn hãi sợ vì sự cho lại của họ.

Nhưng ... Đã cho rồi, sao vẫn còn vương? chắc tôi còn tự hỏi câu đó dài dài ...




Chúc bạn một cuối tuần vui vẻ.

hoctro
11.11.11

Thứ Năm, 14 tháng 7, 2011

Nhạc Sĩ Phạm Duy: Văn Hóa Dân Tộc Từ Trong Lòng Mình - Bonus: Nghe nhạc "Phạm Duy: Bốn Mùa Ca Hát"

Báo VĂN NGHỆ
Số 28 (9 tháng 7, 2011)


Phạm Duy được coi như con chim “bách thanh” của âm nhạc Việt Nam, một trong những tên tuổi lớn của tân nhạc, với hàng ngàn tác phẩm đủ thể loại từ ca khúc tới tổ khúc, trường ca. Gặp Phạm Duy dù đã ở tuổi 90 vẫn minh mẫn nhanh nhẹn và và thật cởi mở, dễ gần trong dịp ông ra Hà Nội dự đêm nhạc “Cỏ Hồng” và nói chuyện Thơ Phổ Nhạc với giới trí thức, nghệ sĩ Hà Nội, chúng tôi đã trao đổi về cảm quan trong sáng tác và nhận xét của Phạm Duy về việc thể hiện tác phẩm âm nhạc của ông.


Phóng Viên. Cảm quan của nhạc sĩ Phạm Duy về tình yêu (không thuần túy là tình yêu đôi lứa) mà nó luôn luôn gắn với vũ trụ, phải chăng đây là khuynh hướng có yếu tố thiền mà ông đã ảnh hưởng theo tinh thần văn hóa phương Đông rất sớm?

NS Phạm Duy. Vâng, tôi bị ảnh hưởng Thiền vì khi còn bé, tôi luôn luôn được Mẹ cho đi lễ Chùa nên tôi bị ảnh hưởng Đạo Phật rất sớm. Còn nhớ lúc đó tôi thuộc lầu nhiêu câu kinh kệ tuy không hiểu rõ nghĩa nhưng biết đó là câu kinh trí huệ đưa người qua bờ bên kia"... Tôi như cảm thấy học được một phép lạ (magical power), nhiều khi tôi nằm trên chiếc trõng tre để nhìn khoảng trời rộng bao la, tưởng tượng thả hồn mình bay theo những làn mây xanh biếc... Lớn lên, cuộc sống đã bắt buộc tôi phải sống nhiều năm ở thôn quê và những khi tôi có thời gian rỗi rãi, không có ai bên cạnh, thì tôi làm bạn với thiên nhiên vậy! Bạn với ao sâu, với con cá bống, bạn với con đê dà và chiếc cầu tre... Cũng vì vậy, về sau, khi trưởng thành rồi, thì một số nhạc tình cảm của tôi tự nhiên có tính chất vũ trụ !

-- Ông đã phân chia tác phẩm : Đạo Ca, Thiền Ca, Rong Ca... điều ấy mang ý nghĩa gì? Ông có thể lý giải rõ hơn về sự phân loại trong âm nhạc của mình ?

-- Sau khi đã soạn ra những ca khúc thông thường về nhạc “trần gian”, tôi thấy cần phải tập trung những sáng tác phẩm có tính chất “tâm linh” vào một loại, cho nên tôi dùng những danh từ “Đạo Ca, Thiền Ca, Rong Ca” để phân biệt chúng với những loại ca khác. “Nhạc tâm linh” là những cảm nghĩ của tôi về cuộc đời chung quanh, trong đó có một số bản nhạc tình.


-- Ca sĩ nào thể hiện tác phẩm của ông mà ông ưng ý nhất ? Theo ông cách hòa âm phối khí nên như thế nào để thể hiện theo phong cách Phạm Duy có hiệu quả nhất ?


-- Thái Thanh và Duy Quang là 2 ca sĩ làm tôi ưng ý nhất, có lẽ vì họ sống gần tôi nên hiểu được tinh thần của những bản nhạc Phạm Duy. Hiện nay một số ca sĩ trẻ cũng làm tôi hài lòng, họ đã quen thuộc với nhạc của tôi như Đức Tuấn, Nguyên Thảo, Mỹ Linh, Quang Linh, Mỹ Hạnh, Ánh Tuyết, Tùng Dương, Quang Dũng, Hà Anh Tuấn, Tần Minh, Mỹ Lệ, Mai Khôi, Minh Quân, Quỳnh Hương, Tấn Sơn, Đoan Trang, Thanh Thúy, Thanh Long Bass, các nhóm nhạc ACM, nhóm Năm Dòng Kẻ, Phương Nghi và các ban hợp ca nhi đồng...
Còn Duy Cường thì nắm được kỹ thuật hòa âm, phối khí phù hợp với những bản nhạc đó, nên Duy Cường đã giúp ích rất nhiều cho việc phổ biến những bài hát tâm linh của tôi. Kỹ thuật của Duy Cường là một thứ hòa âm đa điệu cho nhạc ngũ cung pha trộn với hòa âm cổ điển và tân kỳ. Các nhạc sĩ trẻ khác như Đức Trí, Hoài Sa cũng có kỹ thuật hòa âm phối khí giúp cho thể hiện tác phẩm có hiệu quả thẩm mỹ cao.

-- Có một mảng lớn trong sáng tác của ông là những ca khúc về thiên nhiên và bốn mùa trong đó có những bài nổi tiếng như  Hoa Xuân, Xuân Ca, Ngày Tháng Hạ, Hạ Hồng... Vì sao ông viết nhiều về thiên nhiên và bốn mùa như vậy? Ông có bao nhiêu ca khúc bốn mùa, ông có thể nói rõ ý nghĩa của các ca khúc này.

-- Như các bạn đã biết tôi có may mắn là sống ở thôn quê từ ngày còn bé và bị bao bọc bởi thiên nhiên từ khi tâm hốn còn trong trắng cho nên khi đã trở thành người soạn nhạc thì hình ảnh cứ tuôn ra một cách tự nhiên không cần phải suy nghĩ gì cả. 

Loạt ca hát bốn mùa gồm có Xuân Ca (Đêm Xuân, Nụ Tầm Xuân, Hoa Xuân, Xuân Thì, Xuân Nồng, Du Ca Mùa Xuân, Xuân Ca, Mùa Xuân Yêu Em (thơ Đỗ Quý Toàn), Tâm Xuân (thơ Phạm Thiên Thư), Mừng Xuân, Ngụ Ngôn Mùa Xuân, Mùa Xuân Hoa Thắm (thơ VTT Paris), Ngày Xuân (thơ Thảo Chi); Hạ Ca (Gió Thoảng Đêm Hè, Ngày Tháng Hạ, Hạ Hồng); Thu Ca (Tiếng Thu, Vần Thơ Sầu Rụng (thơ Lưu Trọng Lư), Thu Chiến Trường, Nước Mắt Mùa Thu, Mùa Thu Paris (thơ Cung Trầm Tưởng), Tình Ca Mùa Thu, Mùa Thu Chết (theo thơ Guillaume Appolinaire), Thu Ca Điệu Ru Đơn (theo thơ Paul Verlaine); Đông Ca (Chiều Đông, Tiễn Em (thơ Cung Trầm Tưởng)...




-- Ông đã học hỏi được những gì trong văn hóa Việt và cách tân như thế nào trong sáng tác âm nhạc?

-- Là một người Việt Nam , tôi đã nhiễm văn hóa dân tộc trong lòng rồi ! Việc gì phải học nữa !!! Còn làm mới phong cách (cách tân) của mình thì rõ ràng là tôi đã áp dụng cả những gì tôi tiếp thu được từ văn hóa dân tộccả ở những nền văn hóa khác nữa.

-- Xin cám ơn ông và chúc ông luôn khỏe mạnh an vui để tiếp tục con đường sáng tác âm nhạc.

Trường Kim – Hồng Phúc (thực hiện)
****

Bonus:

Phạm Duy: Ca Hát Bốn Mùa - Xuân Ca

  1. Hoa Xuân - Khánh Ly trình bày
  2. Hoa Xuân - Ý Lan trình bày
  3. Hoa Xuân - Ngọc Lan trình bày
  4. Hoa Xuân - Hoàng Oanh trình bày
  5. Xuân Thì - Khánh Ly trình bày
  6. Xuân Thì - Ý Lan trình bày
  7. Xuân Thì - Quỳnh Giao trình bày
  8. Xuân Ca - Tam ca
  9. Xuân Ca - Ban The Dreamers trình bày
  10. Đêm Xuân - Sĩ Phú trình bày
  11. Đêm Xuân - Thái Hiền trình bày
  12. Mùa Xuân Du Ca - Duy Quang trình bày
  13. Mùa Xuân Yêu Em - Ý Lan trình bày
  14. Tâm Sự Gửi Về Đâu - Duy Quang trình bày
  15. Tiếng Sáo Thiên Thai
  16. Khúc Hát Thanh Xuân (Lời Việt Phạm Duy) - Hà Thanh trình bày
  17. Khúc Hát Thanh Xuân (Lời Việt Phạm Duy) - Thanh Lan trình bày
  18. Khúc Hát Thanh Xuân (Lời Việt Phạm Duy) - Thái Hiền trình bày
  19. Khúc Hát Thanh Xuân (Lời Việt Phạm Duy) - Vĩnh Trinh trình bày
  20. Khúc Hát Thanh Xuân (Lời Việt Phạm Duy) - Ái Vân trình bày
  21. Xuân Hiền - Kiều Nga trình bày
  22. Xuân Ca - Ngọc Lan trình bày
  23. Xuân Ca - Thúy Vi trình bày
  24. Mừng Xuân
  25. Xuân Ca - Duy Quang trình bày
  26. Trên Đồi Xuân - Ái Vân trình bày
  27. Xuân - Thái Hiền trình bày

Phạm Duy: Ca Hát Bốn Mùa - Hạ Ca

  1. Hạ Hồng - Tuấn Ngọc và Khánh Hà trình bày
  2. Gió Thoảng Đêm Hè - Thái Hiền trình bày
  3. Ngày Tháng Hạ - Khánh Hà trình bày
  4. Hạ Hồng - Thái Hiền trình bày
  5. Cỏ Hồng - Thái Thanh trình bày
  6. Hè 42 (Lời Việt Phạm Duy)
  7. Hè 42 (Lời Việt Phạm Duy) - Don Hồ trình bày
  8. Ngày Mùa (Lời Việt Phạm Duy) - Duy Quang trình bày
  9. Em Qua Vườn Anh (Lời Việt Phạm Duy) - Duy Quang trình bày
  10. Hãy Yêu Chàng - Thái Hiền trình bày
  11. Hãy Yêu Chàng - Duy Quang trình bày
  12. Cỏ Hồng - Duy Quang trình bày
  13. Hạ Hồng - Tuấn Ngọc và Khánh Hà trình bày

Phạm Duy: Ca Hát Bốn Mùa - Thu Ca

  1. Tiếng Thu - Thái Thanh trình bày
  2. Vần Thơ Sầu Rụng - Mai Hương trình bày
  3. Hoa Rụng Ven Sông - Ý Lan trình bày
  4. Thú Đau Thương - Mai Hương trình bày
  5. Mùa Thu Chết - Khánh Hà trình bày
  6. Mùa Thu Paris - Tuấn Ngọc trình bày
  7. Nước Mắt Mùa Thu - Thái Hiền trình bày
  8. Tình Ca Mùa Thu - Thái Hiền trình bày
  9. Thu Ca Điệu Ru Đơn - Thái Hiền trình bày
  10. Thu Chiến Trường - Kim Tước trình bày
  11. Tình Thu - Tuấn Ngọc trình bày
  12. Tiếng Thu - Duy Quang và Thái Hiền trình bày
  13. Vần Thơ Sầu Rụng - Thái Thanh trình bày

Phạm Duy: Ca Hát Bốn Mùa - Đông Ca

  1. Chiều Đông - Thái Thanh trình bày
  2. Chiều Đông - Ý Lan trình bày
  3. Chiều Đông - Tam Ca
  4. Mùa Đông Chiến Sĩ - Thái Thanh trình bày
  5. Phố Buồn - Khánh Ly trình bày
  6. Tiếng Bước Trên Đường Khuya
  7. Tiễn Em - Tuấn Ngọc trình bày
  8. Tiễn Em - Dalena trình bày
  9. Bên Ni Bên Nớ - Khánh Ly trình bày
  10. Bên Ni Bên Nớ - Thái Hiền trình bày
  11. Bên Ni Bên Nớ - Thái Thanh trình bày

Thứ Tư, 11 tháng 5, 2011

Giới thiệu "Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà" - Dật Hanh trình bày

Bạn,

Trong một post năm ngoái tôi có giới thiệu một live show vinh danh nhạc sĩ Phạm Duy do các bạn trẻ, rất trẻ ở Singapore thực hiện. Nay xin mạn phép gửi đến các bạn một trong các video clip ấy, do bạn trẻ Dật Hanh trình bày nhạc phẩm Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà. 

Nhân đang nói chuyện về việc tiếp đuốc trong post trước, rồi chuyện nối lại những cái chấm, tôi thấy sự trở về nước của nhạc sĩ Phạm Duy - tuy đã gây chấn động, ồn ào trong dư luận trong và ngoài nước sau vài năm - đã gây trồng và tạo những cây giống tốt của dòng nhạc Phạm Duy, để rồi nay đã khai hoa kết nhụy với những bản trình tấu thật cảm động của các bạn trẻ! Tôi cho rằng những cử chỉ vinh danh đẹp và "ngoài luồng" chỉ đạo của "you-know-who" như thế này mới thực sự là bằng chứng thiết thực, là thước đo cho lòng yêu thương và quý trọng cả dòng nhạc lẫn người nghệ sĩ Phạm Duy của các thế hệ cầm đuốc tiếp nối.

http://www.youtube.com/user/thachkivy#p/u/20/Cw4hpoTGxXE




Đây là video các bạn làm để quảng cáo show năm ngoái, ghi lại những tên tuổi và khuôn mặt thật trẻ


Một vài hình ảnh của đêm hát tôi nhận được năm ngoái từ ns PD gửi bạn bè:









Girls Generation - Korean