Bạn mến,
Sau gần 3 năm trời lơ đễnh, không chú ý đến những người viết gadgets cho blogger platform như tôi, nay họ chào mời mọi người viết widgets để "cho cả triệu người sử dụng".
http://buzz.blogger.com/2009/07/contribute-gadgets-to-blogger.html
Tôi nghĩ đến cách viết một widget biến frontpage của một blog thành một tạp chí, như một cms (content management system.)
Tiếp theo sau tôi sẽ post thật nhiều posts, gồm các bài viết tôi lượm lặt trên net gần 10 năm, phần nhiều là các bài viết về nhạc sĩ, nhạc phẩm, v.v.
Nói trước để bạn thấy nhà tôi như là cái rừng, thì không thắc mắc nữa. tôi cần nhiều contents để viết widgets managing chúng.
Thân mến,
Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2009
Thứ Năm, 9 tháng 7, 2009
Bè Bạn Bốn Phương
Bạn mến,
Không có gì bằng trên đường đi hành hiệp (google search) xem bà con internet đang "tám" những gì, thì gặp những người có cùng sở thích và được họ niềm nở tiếp đón, và muốn kết bạn cùng sở thích.
Tôi đã gặp được một người bạn như vậy. Nick của anh ta là "Kim Cổ Kỳ Nhân". Một trong các sở thích của anh là sưu tầm nhạc phổ (music sheet). Cái màn mày thì tôi mê quá trời! Từ khi sang Mỹ tôi lùng sục hết các hiệu sách ở Saigon Nhỏ, mua kha khá một số sách đã in từ trước cũng như sau 75, nhờ đó mà sự hiểu biết về nhạc của tôi về nhạc vàng Việt nam khá hẳn lên so với ngày còn ở nhà (75-90). Không những nhạc Việt mà nhạc Mỹ tôi cũng hay la cà trong tiệm "Sam Ash" gân ngã tư Beach Blvd. và Westminster Blvd. Họ có các keyboard workstations cho mình thử, nên thích quyển nào là tha hồ mang ra dợt thử trên keyboards trước khi mua :-)
Anh bạn Kim Cổ Kỳ Nhân cũng có thời gian học trung học ở Saigon, cũng là nơi tôi sinh ra và lớn lên trước khi xa xứ, thành ra càng cảm thấy có chung tần số hơn nữa.
Xin được giới thiệu với các bạn trang web của anh. Hiện anh đang tặng bạn bè một collection về nhạc chủ đề Mùa Thu, nên quý bạn phải vào ngay trang web của anh liền, nhanh tay thì còn quà, chậm tay thì ... cũng còn luôn :-)
http://kimcokynhan.wordpress.com/

Thân ái,
Không có gì bằng trên đường đi hành hiệp (google search) xem bà con internet đang "tám" những gì, thì gặp những người có cùng sở thích và được họ niềm nở tiếp đón, và muốn kết bạn cùng sở thích.
Tôi đã gặp được một người bạn như vậy. Nick của anh ta là "Kim Cổ Kỳ Nhân". Một trong các sở thích của anh là sưu tầm nhạc phổ (music sheet). Cái màn mày thì tôi mê quá trời! Từ khi sang Mỹ tôi lùng sục hết các hiệu sách ở Saigon Nhỏ, mua kha khá một số sách đã in từ trước cũng như sau 75, nhờ đó mà sự hiểu biết về nhạc của tôi về nhạc vàng Việt nam khá hẳn lên so với ngày còn ở nhà (75-90). Không những nhạc Việt mà nhạc Mỹ tôi cũng hay la cà trong tiệm "Sam Ash" gân ngã tư Beach Blvd. và Westminster Blvd. Họ có các keyboard workstations cho mình thử, nên thích quyển nào là tha hồ mang ra dợt thử trên keyboards trước khi mua :-)
Anh bạn Kim Cổ Kỳ Nhân cũng có thời gian học trung học ở Saigon, cũng là nơi tôi sinh ra và lớn lên trước khi xa xứ, thành ra càng cảm thấy có chung tần số hơn nữa.
Xin được giới thiệu với các bạn trang web của anh. Hiện anh đang tặng bạn bè một collection về nhạc chủ đề Mùa Thu, nên quý bạn phải vào ngay trang web của anh liền, nhanh tay thì còn quà, chậm tay thì ... cũng còn luôn :-)
http://kimcokynhan.wordpress.com/

Thân ái,
Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2009
e-book
Chào bạn,
Tính viết một bài nhỏ tiếp, viết hoài hủy thành ra một bài dài 60 trang. Tôi làm 1 e-book cộng với mấy bài viết cũ. Mời bạn tới đây download.
http://phamduyproject.googlepages.com/index.htm
Thân ái,
Tính viết một bài nhỏ tiếp, viết hoài hủy thành ra một bài dài 60 trang. Tôi làm 1 e-book cộng với mấy bài viết cũ. Mời bạn tới đây download.
http://phamduyproject.googlepages.com/index.htm
Thân ái,
Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2009
Phạm Quỳnh
NGUYỄN ĐÌNH TOÀN
Độc giả Việt Nam ở hải ngoại trong vài năm gầm đây, đã được đọc mấy tác phẩm của nhà văn Phạm Quỳnh, đó là các cuốn:
- Giải Oan Lập Một Đàn Tràng
- Phạm Quỳnh Tuyển Tập Và Di Cảo
- Phạm Quỳnh Hành Trình, Nhật Ký
Sách do các nhà Tâm Nguyện và An Tiêm xuất bản.
Như mọi người đều biết, vị vua cuối cùng của chúng ta là Bảo Đại.
Ông Phạm Quỳnh là Lại Bộ Thượng Thư, chức vụ tương đương với Thủ Tướng Chính Phủ hiện nay, trong triều đại cuối cùng ấy.
Ông vừa là nhà văn, nhà báo, nhà văn hóa, vừa là chính trị gia, giữ chức vụ quan yếu nhất trong các Bộ, bên cạnh Hoàng Đế.
Hiển nhiên những gì ông viết ra, để lại, hết sức quan trọng đối với chúng ta, vì nó liên quan tới một giai đoạn lịch sử còn ảnh hưởng tới cả đất nước hiện tại.
Giải Oan Lập Một Đàn Tràng là chữ lấy trong truyện Kiều của Nguyễn Du [Giải oan lập một đàn tràng ven sông].
Ông Phạm Quỳnh cũng là người đã viết ra câu:
Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn.
Tiếng ta còn thì nước ta còn.
Dùng mấy chữ của Nguyễn Du để đặt tên cho tác phẩm của mình, có lẽ ông Phạm Quỳnh cũng hé mở cho mọi người thấy rằng, lịch sử cận đại của chúng ta có nhiều nỗi oan khiên chăng?
Hãy lấy đoản văn Một Ngày Một Đêm của ông làm thí dụ.
Cái ngày ông Phạm Quỳnh nói đến trong truyện của ông là ngày 9 và cái đêm đó là đêm 10 tháng Ba năm 1945.
Đó cũng là ngày và đêm Nhật đảo chính Pháp trên bán đảo Đông Dương.
Đọc Một Ngày Một Đêm chúng ta biết được, về phương diện lịch sử, vào thời điểm trọng đại ấy, Hoàng Đế và Triều Đình ta đã làm những gì?
Ông Phạm Quỳnh viết:
“Bấy giờ vào khoảng 9 giờ tối. Dùng cơm xong, tôi đang ngồi trong tư thất Bộ Lại, nói chuyện với con trai thứ tôi là Phạm Bích. Bấy giờ nghe tiếng súng nổ lung tung. Ra sân thì trông thấy đèn chiếu lấp loáng ở bên kia sông và tiếng nổ là tiếng súng liên thanh như tiếng pháo, khi ở phía trên, khi ở phía dưới.
Đương phân vân thì thấy quan Đề Đốc Hộ Thành Phan Gia Trung chạy vào Bộ. Ông nói: ‘Có biến to. Nghe đâu lính khố đỏ phản lại Tây, đương đánh nhau dữ. Xin cho đóng các cửa thành’. Tôi cũng hối ông truyền cho lính đóng chặt các cửa thành, nội bất xuất ngoại bất nhập.
Khi bấy giờ đứng ở thềm Bộ Lại, Ông Đề với tôi cùng sực nhớ Hoàng Đế và Hoàng Hậu ngự ra Quảng Trị đã mấy bữa nay, có lẽ chiều nay hay sáng mai về, nhưng chưa biết hiện giờ đã hồi loan chưa. Vì những khi các ngài ngự vi hành như thế này, thì chỉ lính canh trong Đại Nội và viên Võ Hộ Giá Tây mới biết giờ đi, giờ về mà thôi. Tôi nói với ông Đề: ‘Thôi quan lớn cứ đốc suất việc cấm phòng trong thành cho cẩn mật. Để tôi vô Nội, nếu Ngài đã hồi loan thì tôi chầu Ngài, nếu chưa thì tôi sẽ đi tìm Quan Ba Bon để hỏi’. Ông Đề cũng nói: ‘Phải đấy cụ nên vô Nội để chầu các Ngài là phải’. Bấy giờ, trời tối đen và hơi mưa phùn, ông liền nói: ‘Tôi sẵn cái xe tay kéo tôi đây, cụ lên xe mà đi cho mau’.
Như thế, theo lời kể của ông Phạm Quỳnh, chúng ta được biết, vào đêm xẩy ra vụ Nhật đảo chính Tây, Vua và Hoàng Hậu không có ở trong Đại Nội. Các quan thì cũng gần như chẳng biết chuyện gì đang xẩy ra, chỉ nghe nói ‘lính khố đỏ phản lại Tây’.
Sau đó người Nhật đã cho ông Phạm Quỳnh biết, qua một người thông ngôn:
“Hiện quân Nhật đang giải võ quân Pháp vì có việc lôi thôi giữa quân Nhật và quan Toàn Quyền Decoux. Nhưng không việc gì đến người Việt Nam ta”.
Giải võ xong người Pháp, người Nhật, chính xác là hai quan lãnh sự Watamata và Ishida đã đến Nội ‘xin chầu Hoàng Đế để tâu việc cần’, đúng như những chữ ông Phạm Quỳnh dùng.
Ông cho biết thêm:
“Buổi tiếp kiến này là một giai đoạn quan hệ trong lịch sử nước ta, vì là buổi đề cập tới vấn đề độc lập nước Việt Nam”.
Tình hình nước ta sau đó diễn ra thế nào cho đến nay, mọi người đã biết.
Có vài điều, chỉ khi đọc sách của ông nhiều người trong chúng ta mới biết, đó là cách xưng hô, các từ ngữ được dùng trong triều đình.
Chẳng hạn như xe của Vua gọi là “xe ngự”, xin được gặp Vua để trình việc gọi là “xin chầu” để “tâu”. Vua làm gì đó, chẳng hạn ra vào, gọi là “ngự”. Vua nói gọi là “ban”. Vua tha lỗi gọi là “ban xá”. Vua gọi các quan vào chầu gọi là “triệu”. Các quan gọi nhau dùng từ “quan lớn” hoặc thân mật thì gọi là “cụ”. Quân lính nói với các quan gọi là “bẩm”. Nghĩa là cũng gần giống như trong các truyện Tàu chúng ta thường đọc.
Cho đến năm 1945 trong triều đình hình như vẫn chưa có điện thoại, nên khi muốn thông tin gì đó, người ta vẫn phải tìm cách đi lại gặp nhau.
Vua đã di chuyển bằng xe hơi.
Nhưng các quan vẫn còn dùng “xe tay”, nghĩa là xe do người kéo.
Tuy Giải Oan Lập Một Đàn Tràng của Phạm Quỳnh đã được viết cách đây hơn nửa thế kỷ, nhưng cho đến nay vẫn còn có thể coi là mẫu mực cho những ai muốn học viết tiếng Việt một cách giản dị, mạch lạc, trong sáng.
Phạm Quỳnh cũng là người chủ trương tạp chí Nam Phong, tạp chí đã đóng góp rất nhiều vào việc khai hóa dân trí, nhất là bản lãnh trí thức các lớp thanh niên giữa giao thời Hán và Tây học.
Ông Phạm Quỳnh đã bị Cộng Sản giết chết khi họ cướp được chính quyền từ tay người Nhật.
Dư luận cho rằng, không biết đến bao giờ đất nước mới có được một bậc trí giả tầm cỡ như vậy.
Đọc sách đôi khi chúng ta không khỏi có lúc thắc mắc tự hỏi, tại sao, chúng ta không thiếu những nhà văn, nhà thơ, các học giả thông kim bác cổ, nhưng chúng ta lại không có những nhà tư tưởng, những triết gia?
Và đó có phải là lý do giải thích vì sao, văn học chúng ta không thực sự đạt tới những đỉnh cao?
Nguyên cớ của sự bất như sở nguyện ấy, có phải chính vì cái học của chúng ta, có điều gì đó, cần xét lại chăng?
Cái học nói tới ở đây là cái học của người xưa, ông Phạm Quỳnh, nhìn lại, suy ngẫm lại.
Trong một lá thư gửi bạn, ông Phạm Quỳnh viết:
“Xét ra cái tôn chỉ của đạo Nho ta là ở sự thực hành. Người đi học hễ đã biết suy nghĩ, tất có cái chí muốn thi thố ngay, vì học là cốt cho biết những lẽ khôn ngoan của các thánh hiền đời trước đã phát minh ra để trước là sửa mình, sau là tề nhà, sau nữa là trị nước; chứ học mà không đem ra ứng dụng được ở đời thời cái học ấy các cụ cho là không có giá trị gì.
Cứ lý tưởng mà xét thời cái chí ấy cũng không khỏi hẹp hòi một chút vì rằng, sự tư tưởng với sự hành động không tất nhiên là phải tùy thuộc lẫn nhau, nếu chỉ biết tư tưởng để mà hành động, thời tư tưởng ấy sẽ bị hành động hạn chế mà không bao giờ tiến lên được: coi như nước ta văn hiến đã từ bao giờ, tuy những bậc hiền nhân quân tử chẳng thiếu gì mà trước sau gọi được là bậc đại triết học có người nào? Chỉ vì cái quan niệm về sự học vấn tư tưởng của các cụ ta ngày xưa vụ thực quá, học để mà làm, chứ không học để cho biết, cho nên sự học không ra ngoài phạm vi việc làm, không siêu việt được lên cõi lý tưởng cao thượng thuần túy, như ở các nước văn minh khác: đó cũng là một khuyết điểm trong văn hóa cũ của chúng ta”.
Luận về cái học như vậy, nhưng ông Phạm Quỳnh cũng công nhận, về thực tế, cái chí của các cụ như thế cũng là hay lắm: nước ta sở dĩ sinh tồn được đến nay, từng trải biết bao nhiêu nông nỗi gian nan mà không đến lụn bại, cũng là nhờ cái chí đó của mấy mươi đời nho học.
Bàn về cái chí ấy của các cụ, ông Phạm Quỳnh viết:
“Tôi thường nghĩ đến cái chí ở việc đời của các các cụ ta ngày xưa mà lấy làm sợ: cái chí của các cụ thật là bền, là mạnh vô cùng, càng không siêu việt lắm lại càng cương nghị nhiều. Trừ những người bẩm tính đa sầu, muốn ẩn nhẫn cho an ủi chút lòng phiền muộn xa xôi, còn ai đã chuyên tâm về sự học hành cũng là có bụng về thời thế, cũng là mong có ngày đem tài kinh luân ra thi thố với đời, giúp cho dân, phù cho nước. Dẫu có muốn hiển đạt cho mình cũng là để cho tới địa vị có thể suy khứ được thời thế, biến hóa được nhân tâm, mà ra công phù trì cho thế đạo, chỉnh đốn lấy cương thường.
Mục đích sự học của người xưa rõ ràng như vậy, nên khổ công, dẫu bạc đầu chưa nghỉ và nếu chẳng toại chí thì lấy làm di hận suốt đời. Có yếm thế cũng có nghĩa là cùng không thể sao được nữa mới phải chịu để mình vào chốn bàng quan, chứ không lấy sự yếm thế làm chủ nghĩa một đời”.
Ông Phạm cho rằng, hình thức của nho học đã lỗi thời bỏ đi không lấy gì làm tiếc. Nhưng tinh thần kia phải cố mà cứu vớt, vì cả xã hội luân lý nước ta nương tựa vào đấy. Ông Phạm Quỳnh viết tiếp:
“Tinh thần nho học chính là ở cái chí về thế đạo cương thường, như ta nói ngày nay là nghĩa vụ về quốc gia, xã hội vậy. Nghĩa vụ ấy, phàm làm dân trong một nước ai cũng phải có một phần, nhưng nhất là kẻ thượng lưu học thức, lại càng phải nên thận trọng lắm. Ngày nay phàm người biết trông biết nghĩ, cũng từng nhận rằng buổi này là buổi giao thời, về chính trị, xã hội, luân lý, chưa đâu là thành rường mối cả, lòng người lơ láo không biết lấy gì làm phương châm, thành ra một cái xã hội sốc nổi, tạm bợ, người nào chỉ biết người nấy, mang nhiên không hiểu gì đến việc nước, việc đời, mà trong cách làm ăn cư xử có lắm điều thương phong hóa, bại cương thường mà không biết”.
Những điều ông Phạm viết ra đó, cách nay đã hơn nửa thế kỷ, có bao nhiêu điều còn đúng với cuộc sống chúng ta đang sống đây?
“Lấy cái chí giúp đời ngày xưa mà thi hành vào thời thế bây giờ, dùng phương pháp ngày nay mà đạt cái chí nguyện trăm năm của các cụ, đem học vấn tư tưởng giúp cho xã hội quốc gia, đó là phận sự của bọn mình.
Ngày xưa các cụ học là để sửa mình, tề nhà, trị nước, ngày nay chúng ta học cũng phải lấy ba điều đó làm mục đích. Tuy cái học xưa với cái học nay không giống nhau, mà tôn chỉ của sự học cũng là một, duy phương pháp để thực hành tôn chỉ ấy phải tùy thời thay đổi thôi.
Vậy nay ta phải đem hết trí tuệ mà nghiên cứu những vấn đề hiện thời rồi mới tìm phương giải quyết cho thỏa đáng. Ta phải bình tĩnh mà quan sát, vấn đề nào cũng phải xét cho hết các phương diện, tìm cho đến ngành ngọn, cứu cho ra gốc nguồn, rồi mới bầy tỏ một cách rõ ràng sáng suốt cho quốc dân đều được biết: vấn đề đã bầy tỏ rõ ràng thời giải quyết không khó, chỉ sợ mập mờ chưa tỏ mới lo thi thố sai lầm vậy”.
Tóm lại ông Phạm Quỳnh phân định việc học nhắm hai mục đích rõ rệt: học để biết và học để làm. Chúng ta chưa có những nhà tư tưởng thuần túy, nên chưa có triết gia. Những lời ông luận về “học để hành” có thể coi là những lơì tâm huyết. Nó còn giúp được gì cho học giới ngày nay chăng, điều ấy còn tùy thuộc mỗi người vậy.
NGUYỄN ĐÌNH TOÀN
Nguồn: Viet Tide
Độc giả Việt Nam ở hải ngoại trong vài năm gầm đây, đã được đọc mấy tác phẩm của nhà văn Phạm Quỳnh, đó là các cuốn:
- Giải Oan Lập Một Đàn Tràng
- Phạm Quỳnh Tuyển Tập Và Di Cảo
- Phạm Quỳnh Hành Trình, Nhật Ký
Sách do các nhà Tâm Nguyện và An Tiêm xuất bản.
Như mọi người đều biết, vị vua cuối cùng của chúng ta là Bảo Đại.
Ông Phạm Quỳnh là Lại Bộ Thượng Thư, chức vụ tương đương với Thủ Tướng Chính Phủ hiện nay, trong triều đại cuối cùng ấy.
Ông vừa là nhà văn, nhà báo, nhà văn hóa, vừa là chính trị gia, giữ chức vụ quan yếu nhất trong các Bộ, bên cạnh Hoàng Đế.
Hiển nhiên những gì ông viết ra, để lại, hết sức quan trọng đối với chúng ta, vì nó liên quan tới một giai đoạn lịch sử còn ảnh hưởng tới cả đất nước hiện tại.
Giải Oan Lập Một Đàn Tràng là chữ lấy trong truyện Kiều của Nguyễn Du [Giải oan lập một đàn tràng ven sông].
Ông Phạm Quỳnh cũng là người đã viết ra câu:
Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn.
Tiếng ta còn thì nước ta còn.
Dùng mấy chữ của Nguyễn Du để đặt tên cho tác phẩm của mình, có lẽ ông Phạm Quỳnh cũng hé mở cho mọi người thấy rằng, lịch sử cận đại của chúng ta có nhiều nỗi oan khiên chăng?
Hãy lấy đoản văn Một Ngày Một Đêm của ông làm thí dụ.
Cái ngày ông Phạm Quỳnh nói đến trong truyện của ông là ngày 9 và cái đêm đó là đêm 10 tháng Ba năm 1945.
Đó cũng là ngày và đêm Nhật đảo chính Pháp trên bán đảo Đông Dương.
Đọc Một Ngày Một Đêm chúng ta biết được, về phương diện lịch sử, vào thời điểm trọng đại ấy, Hoàng Đế và Triều Đình ta đã làm những gì?
Ông Phạm Quỳnh viết:
“Bấy giờ vào khoảng 9 giờ tối. Dùng cơm xong, tôi đang ngồi trong tư thất Bộ Lại, nói chuyện với con trai thứ tôi là Phạm Bích. Bấy giờ nghe tiếng súng nổ lung tung. Ra sân thì trông thấy đèn chiếu lấp loáng ở bên kia sông và tiếng nổ là tiếng súng liên thanh như tiếng pháo, khi ở phía trên, khi ở phía dưới.
Đương phân vân thì thấy quan Đề Đốc Hộ Thành Phan Gia Trung chạy vào Bộ. Ông nói: ‘Có biến to. Nghe đâu lính khố đỏ phản lại Tây, đương đánh nhau dữ. Xin cho đóng các cửa thành’. Tôi cũng hối ông truyền cho lính đóng chặt các cửa thành, nội bất xuất ngoại bất nhập.
Khi bấy giờ đứng ở thềm Bộ Lại, Ông Đề với tôi cùng sực nhớ Hoàng Đế và Hoàng Hậu ngự ra Quảng Trị đã mấy bữa nay, có lẽ chiều nay hay sáng mai về, nhưng chưa biết hiện giờ đã hồi loan chưa. Vì những khi các ngài ngự vi hành như thế này, thì chỉ lính canh trong Đại Nội và viên Võ Hộ Giá Tây mới biết giờ đi, giờ về mà thôi. Tôi nói với ông Đề: ‘Thôi quan lớn cứ đốc suất việc cấm phòng trong thành cho cẩn mật. Để tôi vô Nội, nếu Ngài đã hồi loan thì tôi chầu Ngài, nếu chưa thì tôi sẽ đi tìm Quan Ba Bon để hỏi’. Ông Đề cũng nói: ‘Phải đấy cụ nên vô Nội để chầu các Ngài là phải’. Bấy giờ, trời tối đen và hơi mưa phùn, ông liền nói: ‘Tôi sẵn cái xe tay kéo tôi đây, cụ lên xe mà đi cho mau’.
Như thế, theo lời kể của ông Phạm Quỳnh, chúng ta được biết, vào đêm xẩy ra vụ Nhật đảo chính Tây, Vua và Hoàng Hậu không có ở trong Đại Nội. Các quan thì cũng gần như chẳng biết chuyện gì đang xẩy ra, chỉ nghe nói ‘lính khố đỏ phản lại Tây’.
Sau đó người Nhật đã cho ông Phạm Quỳnh biết, qua một người thông ngôn:
“Hiện quân Nhật đang giải võ quân Pháp vì có việc lôi thôi giữa quân Nhật và quan Toàn Quyền Decoux. Nhưng không việc gì đến người Việt Nam ta”.
Giải võ xong người Pháp, người Nhật, chính xác là hai quan lãnh sự Watamata và Ishida đã đến Nội ‘xin chầu Hoàng Đế để tâu việc cần’, đúng như những chữ ông Phạm Quỳnh dùng.
Ông cho biết thêm:
“Buổi tiếp kiến này là một giai đoạn quan hệ trong lịch sử nước ta, vì là buổi đề cập tới vấn đề độc lập nước Việt Nam”.
Tình hình nước ta sau đó diễn ra thế nào cho đến nay, mọi người đã biết.
Có vài điều, chỉ khi đọc sách của ông nhiều người trong chúng ta mới biết, đó là cách xưng hô, các từ ngữ được dùng trong triều đình.
Chẳng hạn như xe của Vua gọi là “xe ngự”, xin được gặp Vua để trình việc gọi là “xin chầu” để “tâu”. Vua làm gì đó, chẳng hạn ra vào, gọi là “ngự”. Vua nói gọi là “ban”. Vua tha lỗi gọi là “ban xá”. Vua gọi các quan vào chầu gọi là “triệu”. Các quan gọi nhau dùng từ “quan lớn” hoặc thân mật thì gọi là “cụ”. Quân lính nói với các quan gọi là “bẩm”. Nghĩa là cũng gần giống như trong các truyện Tàu chúng ta thường đọc.
Cho đến năm 1945 trong triều đình hình như vẫn chưa có điện thoại, nên khi muốn thông tin gì đó, người ta vẫn phải tìm cách đi lại gặp nhau.
Vua đã di chuyển bằng xe hơi.
Nhưng các quan vẫn còn dùng “xe tay”, nghĩa là xe do người kéo.
Tuy Giải Oan Lập Một Đàn Tràng của Phạm Quỳnh đã được viết cách đây hơn nửa thế kỷ, nhưng cho đến nay vẫn còn có thể coi là mẫu mực cho những ai muốn học viết tiếng Việt một cách giản dị, mạch lạc, trong sáng.
Phạm Quỳnh cũng là người chủ trương tạp chí Nam Phong, tạp chí đã đóng góp rất nhiều vào việc khai hóa dân trí, nhất là bản lãnh trí thức các lớp thanh niên giữa giao thời Hán và Tây học.
Ông Phạm Quỳnh đã bị Cộng Sản giết chết khi họ cướp được chính quyền từ tay người Nhật.
Dư luận cho rằng, không biết đến bao giờ đất nước mới có được một bậc trí giả tầm cỡ như vậy.
Đọc sách đôi khi chúng ta không khỏi có lúc thắc mắc tự hỏi, tại sao, chúng ta không thiếu những nhà văn, nhà thơ, các học giả thông kim bác cổ, nhưng chúng ta lại không có những nhà tư tưởng, những triết gia?
Và đó có phải là lý do giải thích vì sao, văn học chúng ta không thực sự đạt tới những đỉnh cao?
Nguyên cớ của sự bất như sở nguyện ấy, có phải chính vì cái học của chúng ta, có điều gì đó, cần xét lại chăng?
Cái học nói tới ở đây là cái học của người xưa, ông Phạm Quỳnh, nhìn lại, suy ngẫm lại.
Trong một lá thư gửi bạn, ông Phạm Quỳnh viết:
“Xét ra cái tôn chỉ của đạo Nho ta là ở sự thực hành. Người đi học hễ đã biết suy nghĩ, tất có cái chí muốn thi thố ngay, vì học là cốt cho biết những lẽ khôn ngoan của các thánh hiền đời trước đã phát minh ra để trước là sửa mình, sau là tề nhà, sau nữa là trị nước; chứ học mà không đem ra ứng dụng được ở đời thời cái học ấy các cụ cho là không có giá trị gì.
Cứ lý tưởng mà xét thời cái chí ấy cũng không khỏi hẹp hòi một chút vì rằng, sự tư tưởng với sự hành động không tất nhiên là phải tùy thuộc lẫn nhau, nếu chỉ biết tư tưởng để mà hành động, thời tư tưởng ấy sẽ bị hành động hạn chế mà không bao giờ tiến lên được: coi như nước ta văn hiến đã từ bao giờ, tuy những bậc hiền nhân quân tử chẳng thiếu gì mà trước sau gọi được là bậc đại triết học có người nào? Chỉ vì cái quan niệm về sự học vấn tư tưởng của các cụ ta ngày xưa vụ thực quá, học để mà làm, chứ không học để cho biết, cho nên sự học không ra ngoài phạm vi việc làm, không siêu việt được lên cõi lý tưởng cao thượng thuần túy, như ở các nước văn minh khác: đó cũng là một khuyết điểm trong văn hóa cũ của chúng ta”.
Luận về cái học như vậy, nhưng ông Phạm Quỳnh cũng công nhận, về thực tế, cái chí của các cụ như thế cũng là hay lắm: nước ta sở dĩ sinh tồn được đến nay, từng trải biết bao nhiêu nông nỗi gian nan mà không đến lụn bại, cũng là nhờ cái chí đó của mấy mươi đời nho học.
Bàn về cái chí ấy của các cụ, ông Phạm Quỳnh viết:
“Tôi thường nghĩ đến cái chí ở việc đời của các các cụ ta ngày xưa mà lấy làm sợ: cái chí của các cụ thật là bền, là mạnh vô cùng, càng không siêu việt lắm lại càng cương nghị nhiều. Trừ những người bẩm tính đa sầu, muốn ẩn nhẫn cho an ủi chút lòng phiền muộn xa xôi, còn ai đã chuyên tâm về sự học hành cũng là có bụng về thời thế, cũng là mong có ngày đem tài kinh luân ra thi thố với đời, giúp cho dân, phù cho nước. Dẫu có muốn hiển đạt cho mình cũng là để cho tới địa vị có thể suy khứ được thời thế, biến hóa được nhân tâm, mà ra công phù trì cho thế đạo, chỉnh đốn lấy cương thường.
Mục đích sự học của người xưa rõ ràng như vậy, nên khổ công, dẫu bạc đầu chưa nghỉ và nếu chẳng toại chí thì lấy làm di hận suốt đời. Có yếm thế cũng có nghĩa là cùng không thể sao được nữa mới phải chịu để mình vào chốn bàng quan, chứ không lấy sự yếm thế làm chủ nghĩa một đời”.
Ông Phạm cho rằng, hình thức của nho học đã lỗi thời bỏ đi không lấy gì làm tiếc. Nhưng tinh thần kia phải cố mà cứu vớt, vì cả xã hội luân lý nước ta nương tựa vào đấy. Ông Phạm Quỳnh viết tiếp:
“Tinh thần nho học chính là ở cái chí về thế đạo cương thường, như ta nói ngày nay là nghĩa vụ về quốc gia, xã hội vậy. Nghĩa vụ ấy, phàm làm dân trong một nước ai cũng phải có một phần, nhưng nhất là kẻ thượng lưu học thức, lại càng phải nên thận trọng lắm. Ngày nay phàm người biết trông biết nghĩ, cũng từng nhận rằng buổi này là buổi giao thời, về chính trị, xã hội, luân lý, chưa đâu là thành rường mối cả, lòng người lơ láo không biết lấy gì làm phương châm, thành ra một cái xã hội sốc nổi, tạm bợ, người nào chỉ biết người nấy, mang nhiên không hiểu gì đến việc nước, việc đời, mà trong cách làm ăn cư xử có lắm điều thương phong hóa, bại cương thường mà không biết”.
Những điều ông Phạm viết ra đó, cách nay đã hơn nửa thế kỷ, có bao nhiêu điều còn đúng với cuộc sống chúng ta đang sống đây?
“Lấy cái chí giúp đời ngày xưa mà thi hành vào thời thế bây giờ, dùng phương pháp ngày nay mà đạt cái chí nguyện trăm năm của các cụ, đem học vấn tư tưởng giúp cho xã hội quốc gia, đó là phận sự của bọn mình.
Ngày xưa các cụ học là để sửa mình, tề nhà, trị nước, ngày nay chúng ta học cũng phải lấy ba điều đó làm mục đích. Tuy cái học xưa với cái học nay không giống nhau, mà tôn chỉ của sự học cũng là một, duy phương pháp để thực hành tôn chỉ ấy phải tùy thời thay đổi thôi.
Vậy nay ta phải đem hết trí tuệ mà nghiên cứu những vấn đề hiện thời rồi mới tìm phương giải quyết cho thỏa đáng. Ta phải bình tĩnh mà quan sát, vấn đề nào cũng phải xét cho hết các phương diện, tìm cho đến ngành ngọn, cứu cho ra gốc nguồn, rồi mới bầy tỏ một cách rõ ràng sáng suốt cho quốc dân đều được biết: vấn đề đã bầy tỏ rõ ràng thời giải quyết không khó, chỉ sợ mập mờ chưa tỏ mới lo thi thố sai lầm vậy”.
Tóm lại ông Phạm Quỳnh phân định việc học nhắm hai mục đích rõ rệt: học để biết và học để làm. Chúng ta chưa có những nhà tư tưởng thuần túy, nên chưa có triết gia. Những lời ông luận về “học để hành” có thể coi là những lơì tâm huyết. Nó còn giúp được gì cho học giới ngày nay chăng, điều ấy còn tùy thuộc mỗi người vậy.
NGUYỄN ĐÌNH TOÀN
Nguồn: Viet Tide
Thứ Tư, 29 tháng 4, 2009
"Phạm Duy - Một Trăm Tình Khúc của Một Đời Người" phổ thông ra sao với cư dân mạng? (Ghi chép #1)
Một ý tưởng về phân loại bằng cách sử dụng trang tìm kiếm của Google đã khiến tôi hì hục cắt dán từng tựa bài "Phạm Duy - Một trăm tình khúc của một đời người" do tôi tuyển chọn cách đây 5,6 năm rôi tìm kết quả.

Tôi cho tên bài trước, rồi tên tác giả,

xong xem kết quả,

Đây là kết quả của 100 bài trên. Trong post kế tiếp tôi sẽ viết xuống những cảm nghĩ về sự phổ thông của các bài hát.
1. Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà (Thơ: Hữu Loan) 698
2. Bài Ca Sao 3,660
3. Bên Cầu Biên Giới 2,560
4. Bên Ni Bên Nớ (Thơ: Cung Trầm Tưởng) 1,620
5. Cành Hoa Trắng 4,320
6. Cây Đàn Bỏ Quên 7,990
7. Chiều Về Trên Sông 3,390
8. Chú Cuội 3,210
9. Chuyện Tình Buồn (Thơ: Phạm Văn Bình) 625
10. Cỏ Hồng 10,100
11. Còn Chút Gì Để Nhớ (Thơ: Vũ Hữu Định) 4,090
12. Con Đường Tình Ta Đi 706
13. Còn Gì Nữa Đâu 4,740
14. Dạ Lai Hương 180
15. Đêm Xuân 7,580
16. Đố Ai 7,630
17. Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng (Thơ: Phạm Thiên Thư) 825
18. Đừng Bỏ Em Một Mình (Thơ: Minh Đức Hoài Trinh) 1,400
19. Đừng Xa Nhau 3,010
20. Ðường Chiều Lá Rụng 284
21. Đường Em Đi 6,460
22. Em Hiền Như Ma Soeur (Thơ: Nguyễn Tất Nhiên) 1,780
23. Em Lễ Chùa Này (Thơ: Phạm Thiên Thư) 4,770
24. Gánh Lúa 4,710
25. Giết Người Trong Mộng 3,090
26. Gió Thoảng Đêm Hè 342
27. Giọt Mưa Trên Lá 3,560
28. Gọi Em Là Đóa Hoa Sầu (Thơ: Phạm Thiên Thư ) 1,420
29. Hạ Hồng 2,420
30. Hãy Yêu Chàng (Thơ: Nguyễn Tất Nhiên) 1,600
31. Hẹn Em Năm 2000 698
32. Hẹn Hò 30,800
33. Hoa Rụng Ven Sông (Thơ: Lưu Trọng Lư) 1,640
34. Hoa Xuân 9,330
35. Khi Tôi Về (Thơ: Kim Tuấn) 49,600
36. Khối Tình Trương Chi 2,160
37. Kiếp Nào Có Yêu Nhau (Thơ: Hoài Trinh) 537
38. Kiếp Sau (Thơ: Cung Trầm Tưởng) 591
39. Kỷ Niệm 164,000
40. Kỷ Vật Cho Em (Thơ: Linh Phương) 3,780
41. Lá Diêu Bông (Thơ: Hoàng Cầm) 857
42. Làm Sao Mà Quên Được (Thơ: Nguyễn Tấn Phát) 1,000
43. Mẹ Trùng Dương 1,010
44. Mộ Khúc (Thơ: Xuân Diệu) 3,090
45. Mộng Du 5,650
46. Mùa Thu Chết (Thơ: Guillaume Apollinaire) 5,220
47. Mùa Thu Paris (Thơ: Cung Trầm Tưởng) 1,080
48. Mùa Xuân Yêu Em (Thơ: Đỗ Quý Toàn) 1,530
49. Nắng Chiều Rực Rỡ 2,150
50. Nếu Một Mai Em Sẽ Qua Đời 679
51. Ngậm Ngùi (Thơ: Huy Cận) 36,000
52. Ngày Đó Chúng Mình 4,220
53. Ngày Em Hai Mươi Tuổi 1,210
54. Ngày Tháng Hạ 921
55. Ngày Trở Về 68,300
56. Ngày Xưa Hoàng Thị (Thơ: Phạm Thiên Thư) 12,100
57. Nghìn Năm Vẫn Chưa Quên 575
58. Nghìn Thu 5,550
59. Nghìn Trùng Xa Cách 10,300
60. Người Về 18,800
61. Nha Trang Ngày Về 5,710
62. Nhớ Người Ra đi 2,440
63. Nụ Tầm Xuân 3,980
64. Nước Mắt Mùa Thu 3,460
65. Nước Mắt Rơi 3,510
66. Nước Non Ngàn Dặm Ra Đi 3,090
67. Nương Chiều 5,380
68. Phượng Yêu 13,200
69. Quê Nghèo (Bao Giờ Anh Lấy Được Đồn Tây) 10,800
70. Rồi Đây Anh Sẽ Đưa Em Về Nhà 4,670
71. Tạ Ơn Đời 3,760
72. Tâm Sự Gửi Về Đâu (Thơ: Lê Minh Ngọc) 1,030
73. Thà Như Giọt Mưa (Thơ: Nguyễn Tất Nhiên) 775
74. Thu Ca Điệu Ru Đơn (Thơ: Paul Verlaine) 538
75. Thương Ai Nhớ Ai 1,870
76. Thương Tình Ca 2,620
77. Thuyền Viễn Xứ (Thơ: Huyền Chi) 8,870
78. Tiễn Em (Thơ: Cung Trầm Tưởng) 4,660
79. Tiếng Đàn Tôi 5,620
80. Tiếng Sáo Thiên Thai (Thơ: Thế Lữ) 5,880
81. Tiếng Thu (Thơ: Lưu Trọng Lư) 3,610
82. Tìm Nhau 13,500
83. Tình Ca 97,400
84. Tình Cầm (Thơ: Hoàng Cầm) 7,280
85. Tình Hoài Hương 10,900
86. Tóc Mai Sợi Vắn Sợi Dài 2,500
87. Tôi Còn Yêu Tôi Cứ Yêu 629
88. Tôi Đang Mơ Giấc Mộng Dài (Thơ: Lê Lan) 1,340
89. Trả Lại Em Yêu 596
90. Trên Đồi Xuân 558
91. Tuổi Mộng Mơ 2,650
92. Tuổi Ngọc 7,080
93. Tuổi Thần Tiên 3,140
94. Về Miền Trung 694
95. Vết Sâu (Thơ: Nguyên Sa) 392
96. Viễn Du 4,660
97. Việt Nam! Việt Nam! 8,630
98. Xuân Ca 7,920
99. Xuân Thì 6,020
100. Yêu Là Chết Ở Trong Lòng 935

Tôi cho tên bài trước, rồi tên tác giả,

xong xem kết quả,

Đây là kết quả của 100 bài trên. Trong post kế tiếp tôi sẽ viết xuống những cảm nghĩ về sự phổ thông của các bài hát.
1. Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà (Thơ: Hữu Loan) 698
2. Bài Ca Sao 3,660
3. Bên Cầu Biên Giới 2,560
4. Bên Ni Bên Nớ (Thơ: Cung Trầm Tưởng) 1,620
5. Cành Hoa Trắng 4,320
6. Cây Đàn Bỏ Quên 7,990
7. Chiều Về Trên Sông 3,390
8. Chú Cuội 3,210
9. Chuyện Tình Buồn (Thơ: Phạm Văn Bình) 625
10. Cỏ Hồng 10,100
11. Còn Chút Gì Để Nhớ (Thơ: Vũ Hữu Định) 4,090
12. Con Đường Tình Ta Đi 706
13. Còn Gì Nữa Đâu 4,740
14. Dạ Lai Hương 180
15. Đêm Xuân 7,580
16. Đố Ai 7,630
17. Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng (Thơ: Phạm Thiên Thư) 825
18. Đừng Bỏ Em Một Mình (Thơ: Minh Đức Hoài Trinh) 1,400
19. Đừng Xa Nhau 3,010
20. Ðường Chiều Lá Rụng 284
21. Đường Em Đi 6,460
22. Em Hiền Như Ma Soeur (Thơ: Nguyễn Tất Nhiên) 1,780
23. Em Lễ Chùa Này (Thơ: Phạm Thiên Thư) 4,770
24. Gánh Lúa 4,710
25. Giết Người Trong Mộng 3,090
26. Gió Thoảng Đêm Hè 342
27. Giọt Mưa Trên Lá 3,560
28. Gọi Em Là Đóa Hoa Sầu (Thơ: Phạm Thiên Thư ) 1,420
29. Hạ Hồng 2,420
30. Hãy Yêu Chàng (Thơ: Nguyễn Tất Nhiên) 1,600
31. Hẹn Em Năm 2000 698
32. Hẹn Hò 30,800
33. Hoa Rụng Ven Sông (Thơ: Lưu Trọng Lư) 1,640
34. Hoa Xuân 9,330
35. Khi Tôi Về (Thơ: Kim Tuấn) 49,600
36. Khối Tình Trương Chi 2,160
37. Kiếp Nào Có Yêu Nhau (Thơ: Hoài Trinh) 537
38. Kiếp Sau (Thơ: Cung Trầm Tưởng) 591
39. Kỷ Niệm 164,000
40. Kỷ Vật Cho Em (Thơ: Linh Phương) 3,780
41. Lá Diêu Bông (Thơ: Hoàng Cầm) 857
42. Làm Sao Mà Quên Được (Thơ: Nguyễn Tấn Phát) 1,000
43. Mẹ Trùng Dương 1,010
44. Mộ Khúc (Thơ: Xuân Diệu) 3,090
45. Mộng Du 5,650
46. Mùa Thu Chết (Thơ: Guillaume Apollinaire) 5,220
47. Mùa Thu Paris (Thơ: Cung Trầm Tưởng) 1,080
48. Mùa Xuân Yêu Em (Thơ: Đỗ Quý Toàn) 1,530
49. Nắng Chiều Rực Rỡ 2,150
50. Nếu Một Mai Em Sẽ Qua Đời 679
51. Ngậm Ngùi (Thơ: Huy Cận) 36,000
52. Ngày Đó Chúng Mình 4,220
53. Ngày Em Hai Mươi Tuổi 1,210
54. Ngày Tháng Hạ 921
55. Ngày Trở Về 68,300
56. Ngày Xưa Hoàng Thị (Thơ: Phạm Thiên Thư) 12,100
57. Nghìn Năm Vẫn Chưa Quên 575
58. Nghìn Thu 5,550
59. Nghìn Trùng Xa Cách 10,300
60. Người Về 18,800
61. Nha Trang Ngày Về 5,710
62. Nhớ Người Ra đi 2,440
63. Nụ Tầm Xuân 3,980
64. Nước Mắt Mùa Thu 3,460
65. Nước Mắt Rơi 3,510
66. Nước Non Ngàn Dặm Ra Đi 3,090
67. Nương Chiều 5,380
68. Phượng Yêu 13,200
69. Quê Nghèo (Bao Giờ Anh Lấy Được Đồn Tây) 10,800
70. Rồi Đây Anh Sẽ Đưa Em Về Nhà 4,670
71. Tạ Ơn Đời 3,760
72. Tâm Sự Gửi Về Đâu (Thơ: Lê Minh Ngọc) 1,030
73. Thà Như Giọt Mưa (Thơ: Nguyễn Tất Nhiên) 775
74. Thu Ca Điệu Ru Đơn (Thơ: Paul Verlaine) 538
75. Thương Ai Nhớ Ai 1,870
76. Thương Tình Ca 2,620
77. Thuyền Viễn Xứ (Thơ: Huyền Chi) 8,870
78. Tiễn Em (Thơ: Cung Trầm Tưởng) 4,660
79. Tiếng Đàn Tôi 5,620
80. Tiếng Sáo Thiên Thai (Thơ: Thế Lữ) 5,880
81. Tiếng Thu (Thơ: Lưu Trọng Lư) 3,610
82. Tìm Nhau 13,500
83. Tình Ca 97,400
84. Tình Cầm (Thơ: Hoàng Cầm) 7,280
85. Tình Hoài Hương 10,900
86. Tóc Mai Sợi Vắn Sợi Dài 2,500
87. Tôi Còn Yêu Tôi Cứ Yêu 629
88. Tôi Đang Mơ Giấc Mộng Dài (Thơ: Lê Lan) 1,340
89. Trả Lại Em Yêu 596
90. Trên Đồi Xuân 558
91. Tuổi Mộng Mơ 2,650
92. Tuổi Ngọc 7,080
93. Tuổi Thần Tiên 3,140
94. Về Miền Trung 694
95. Vết Sâu (Thơ: Nguyên Sa) 392
96. Viễn Du 4,660
97. Việt Nam! Việt Nam! 8,630
98. Xuân Ca 7,920
99. Xuân Thì 6,020
100. Yêu Là Chết Ở Trong Lòng 935
Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2009
Trịnh Công Sơn - Tản Mạn
Lâu quá không viết trên blog, hôm nay tôi chợt có hứng trở lại. Nhân gần đây có nhiều ầm ĩ về ns qua bài viết của họa sĩ Trịnh Cung trên damau.org, tôi cũng muốn để lại cho tôi vài cảm nghĩ riêng.
1. Theo như tôi thấy, bên Hoa Kỳ họ không ghép các tác phẩm chung với đời riêng của nghệ sĩ. Ỏ Mỹ lâu ngày thành ra tôi cũng không quan tâm đến đời tư nghệ sĩ lắm, có chăng là để hiểu thêm hoàn cảnh sáng tác bài nhạc.
2. Bài hát "Cuối cùng cho một tình yêu" là nhạc phẩm nổi tiếng nhất mà TCS đã phổ nhạc. Bài nhạc rất hay, và rất "không" TCS, nếu nói về cách xây dựng, phát triển câu nhạc. "Middle-eight", tức điệp khúc, cũng rất "khác" phong cách TCS. Vì ở đây, TCS không có lời nhạc do mình viết ra để phổ, mà phải dùng chất liệu do người khác viết. Cái khó ló cái khôn. Kết quả rất mỹ mãn.
Điều đáng chú ý là, TCS không phổ nhạc nhiều bài thơ khác, hay có mà dở, không nhiều người biết, hay là không phổ biến. Vì chỉ dùng chất liệu là ý và ca từ của mình, cộng với sự dễ dãi (vô tình hay cố ý) trong việc phát triển câu nhạc, không sử dụng nhiều modulations, nên nhạc của ông chỉ quanh quẩn trong một cung thứ, hoặc trưởng, hoặc phiên khúc thứ, điệp khúc trưởng. Thật đáng tiếc!
Sở dĩ tôi có nhận xét trên là vì gần đây tôi có bỏ thì giờ nghe và xem nhiều tư liệu liên quan đến cách thức sáng tác nhạc của tứ quái Beatles nói chung, và cặp Lennon - McCartney nói riêng. Nhạc của họ hay quá, phong phú quá, và nhất là họ luôn luôn tìm cách làm mới nhạc của họ. Các modulations (chuyển hệ) của họ thật khéo léo, đặc sắc. Tôi không thấy một tìm tòi tương tự trong nhạc của TCS! Thật đáng tiếc! Xin nói thêm là Lennon-McCartney không biết đọc nốt nhạc khi chơi trong thời kỳ Beatles, mọi ký âm phải nhờ vào Sir George Martin.
Một quyển sách rất hay, tôi mua được trên mạng qua một hiệu sách bên Anh. Bạn có thể xem thử vài chương đầu ở đây:
The Songwriting Secrets of the Beatles - By Dominic Pedler
Xin hết, và xin gặp lại bạn kỳ tới.
1. Theo như tôi thấy, bên Hoa Kỳ họ không ghép các tác phẩm chung với đời riêng của nghệ sĩ. Ỏ Mỹ lâu ngày thành ra tôi cũng không quan tâm đến đời tư nghệ sĩ lắm, có chăng là để hiểu thêm hoàn cảnh sáng tác bài nhạc.
2. Bài hát "Cuối cùng cho một tình yêu" là nhạc phẩm nổi tiếng nhất mà TCS đã phổ nhạc. Bài nhạc rất hay, và rất "không" TCS, nếu nói về cách xây dựng, phát triển câu nhạc. "Middle-eight", tức điệp khúc, cũng rất "khác" phong cách TCS. Vì ở đây, TCS không có lời nhạc do mình viết ra để phổ, mà phải dùng chất liệu do người khác viết. Cái khó ló cái khôn. Kết quả rất mỹ mãn.
Điều đáng chú ý là, TCS không phổ nhạc nhiều bài thơ khác, hay có mà dở, không nhiều người biết, hay là không phổ biến. Vì chỉ dùng chất liệu là ý và ca từ của mình, cộng với sự dễ dãi (vô tình hay cố ý) trong việc phát triển câu nhạc, không sử dụng nhiều modulations, nên nhạc của ông chỉ quanh quẩn trong một cung thứ, hoặc trưởng, hoặc phiên khúc thứ, điệp khúc trưởng. Thật đáng tiếc!
Sở dĩ tôi có nhận xét trên là vì gần đây tôi có bỏ thì giờ nghe và xem nhiều tư liệu liên quan đến cách thức sáng tác nhạc của tứ quái Beatles nói chung, và cặp Lennon - McCartney nói riêng. Nhạc của họ hay quá, phong phú quá, và nhất là họ luôn luôn tìm cách làm mới nhạc của họ. Các modulations (chuyển hệ) của họ thật khéo léo, đặc sắc. Tôi không thấy một tìm tòi tương tự trong nhạc của TCS! Thật đáng tiếc! Xin nói thêm là Lennon-McCartney không biết đọc nốt nhạc khi chơi trong thời kỳ Beatles, mọi ký âm phải nhờ vào Sir George Martin.
Một quyển sách rất hay, tôi mua được trên mạng qua một hiệu sách bên Anh. Bạn có thể xem thử vài chương đầu ở đây:
The Songwriting Secrets of the Beatles - By Dominic Pedler
Xin hết, và xin gặp lại bạn kỳ tới.
Thứ Tư, 25 tháng 3, 2009
Vua Nhạc Trẻ Trường Kỳ qua đời (1946-2009)
Ông vua nhạc trẻ “Trường Kỳ” đã vĩnh viễn ra đi lúc 1 giờ trưa ngày 22 tháng 3 năm 2009 tại thành phố Toronto, Canada. Ký giả Kỳ Phát nhận được tin đầu tiên và kế đó là tôi từ ca sĩ Quốc Anh đang đi lưu diễn tại canada.
Tôi, Kỳ Phát, và Nam Lộc đếu bàng hoàng khi nghe tin. Tôi liền gọi điện thoại về Việt Nam cho anh Tiến Chỉnh (tay bass guitar của ban nhạc Strawberry Four, cũng là người bạn rất thân với Trường Kỳ để nhắn giùm chị Huyền là hiền thê của anh trở về Canda gấp, để lo công việc.) Tôi vẫn còn bàng hoàng và thương tiếc người anh thân yêu của tôi mà đã bao lần cùng anh dấn thân vào con đường viết lách, và say mê âm nhạc đến tột độ. Nhân đây cho các bạn biết thêm về Trường Kỳ. tại Sao Trường Kỳ được mệnh danh là ông vua Nhạc Trẻ.
Trường Kỳ Ra đời ngày 29 tháng 3 năm 1946 tại Hà Nội, con của ông Vũ Ngọc Trân và bà Phạm Thị Trọng Yêm, được người bác vốn là soạn giả nhiều bộ sách giáo khoa Pháp văn, không tức cảnh sinh tình, mà vịn vào chữ nghĩa phổ biến của thời đại “trường kỳ kháng chiến” đặt cho cái tên có tuổi thọ đáng nể: Trường Kỳ.
Trường Kỳ đã sớm mất tình mẫu tử. Ngay trong ngày ngấp nghé ba tháng tuổi, cuộc tình giữa cha mẹ đã đổ vở, Trường Kỳ được đưa về làng Đồng Nghĩa tỉnh Nam Định cho ông bà nội nuôi dưỡng. Sáu năm ấu thơ đi qua, thằng cháu đích tôn, chưa hề dám đuổi một con ruồi, sống trong tình thương yêu của bố, của ông bà nội thật ấm áp, tuyệt vời. Vườn rau, chái hiên, vuông sân, bờ ao, gốc đa...thay nhau rủ rê, dìu dắt cậu đi khắp thôn, khắp làng, đi dần đến những ước mơ chập chờn, chưa định hình trong đầu óc. Cứ thế mà anh lớn lên cho đến ngày được trở về Hà Nội, được đưa vào trường Puginier và ở đây cùng văn hoá Pháp cho đến lớp 11è, năm 1954.
Song song với các trò chơi sưu tầm tem thư, sưu tập truyện bằng hình mua từ hội quán Coeur Vaillant, Trường Kỳ chơi âm nhạc bằng cách mở radio nghe đều đặn các chương trình Tuyển Lựa Ca Sĩ của đài Phát Thanh Sài Gòn. Âm nhạc từ đó, từng bước đi vào cuộc sống Trường Kỳ. Anh đã được các ông chú, bà cô đưa vào phòng trà Anh Vũ, đến rạp Kim Chung và không bỏ sót những chương trình Đại Nhạc Hội. Trường Kỳ sớm biết mê những tiếng đàn, tiếng trống của Khánh Băng, Phùng Trọng, ban nhạc The Blue Jean Boys...Cuối cùng, thời kỳ trực tiếp chạm tay vào âm nhạc cũng đến. Trường Kỳ theo học đàn accordéon từ nhạc sĩ Vũ Lung. Với cái đàn khá nặng trước lồng ngực hẹp của thân thể nhỏ con, nhưng Trường Kỳ đã cùng người bạn mới này, lần lượt đi qua các ca khúc Thoi Tơ, Dừng Bước Giang Hồ, Cumparsita, La Paloma, Come Back To Sorrrento, Blue Danube....Những tên tuổi trong giới nghệ sĩ chưa hề gặp cũng cảm thấy gần gũi hơn, nào là Phạm Duy, Văn Phụng, La Hối, Nguyễn Hiền, Canh Thân, nào là Thái Thanh, Thái Hằng, Mộc Lan, Hà Thanh, Châu Hà, Kim Tước... Giữa giai đoạn chăm chỉ rèn luyện, Trường Kỳ bỗng tình cờ có cơ hội biểu diễn lần đầu tiên trong đời. Bục diễn của anh nằm trong sân trường Lạc Hồng. Khán giả của anh là vô số học sinh cấp tiểu học cùng đầy đủ mẹ cha của họ. Trường Kỳ đã trổ tài cùng với giọng ca Phương Lan, Quốc Thắng, Kim Chi...Cuộc biểu diễn được chính Trường Kỳ cho là non tay, nhưng phần thưởng anh nhận khá lớn, đó là sự quen biết giữa anh và thần đồng Phương Lan, sau mấy lời ngợi khen của cô ca sĩ tí hon này.(Phương Lan tên thật Võ Thị Nhi).
Từ một cậu bé nhút nhát, thường “cúi gầm mặt khi đối diện với người lạ” thằng “Kỳ Đen” rủ thằng “Kỳ Lùn” tiến đến những biệt danh “Vua Nhạc Trẻ”, “Lãnh Tụ Hippy” không phải là những tình cờ ngẫu nhiên. Đó là cả một quá trình sinh hoạt văn nghệ với nhiều bộ môn, thơ, truyện, âm nhạc... rất phong phú của Trường Kỳ. Nhưng âm nhạc, tài nghệ tổ chức, lẫn ký giả văn nghệ mới chính là những trọng điểm giúp cho cậu thanh niên không lớn con, không xấu trai này thành danh.
“Với bản tính hiền hòa, cởi mở, năng động, Trường Kỳ biết cách kết nối thành công những tài năng có chung một một chí hướng, một sự yêu mê nghệ thuật lại với nhau. Trong gần suốt hai thập niên 60, 70 anh cùng một số bạn trong giới nghệ sĩ như Jo Marcel, Tùng Giang, Nam Lộc, vv…đã đứng ra tổ chức thành công nhiều cuộc trình diễn ca nhạc qui mô tại những địa điểm rộng lớn ở thủ đô Sài Gòn. Bước khởi đầu vào sân chơi âm nhạc rộng lớn của Trường Kỳ và các bạn chính thức mở màn trong năm 1964. Thị dân SàiGòn, nhất là lớp trẻ của một thời tự do hẳn khó quên những: Đại Nhạc Hội Nhạc Trẻ Taberd liên tiếp từ năm 64 đến năm 1973 ( trừ năm 68 ), Đại hội Nhạc Trẻ Quốc Tế Ngoài Trời 1971 (tại sân Hoa Lư), Đại Hội Nhạc Trẻ Thảo Cầm Viên từ 71 đến 74,....Ngoài ra còn các chương trình nhạc trẻ hàng tuần “Hippies À Go Go” được tổ chức tại những vũ trường ỏ Sài Gòn từ năm 67 đến 71 như : Chez Jo Marcel , Queen Bee và Ritz”
Gia tài ca khúc nhạc trẻ thời bấy giờ tại Việt Nam còn khá nghèo nàn so với sự ra đời thật náo nhiệt của những ban, nhóm chơi nhạc kích động như: (danh xưng này được đổi thành Nhạc Trẻ do chính Trường Kỳ nêu ra và được dùng từ năm 1965): Les Fanatiques, Les Vampires, The Teddy Bears, The Daltons, Les Faucons Noirs, Les Tridents, The Rockin’ Stars, The Black Caps, The Hard Stones, The Dreamers, The Spotlights, Phượng Hoàng, The Strawberry Four, The Bee Gees, The Apple Three, The Cats’ Trio, The Hammers, The Dreamers, The Crazy Dogs, The Teen Sound, The Peanuts Company, The Enterprise, The New Flintsones Corporation, The Hard Stones, The Fighters, The Starling Show, The Blue Stars, The Free Ones, vv…Vì lẽ này, Trường Kỳ liền xắn tay áo chuyển ca khúc ngoại quốc thành lời Việt, đồng thời cho phát hành những bộ sưu tậpTình Ca Nhạc Trẻ đánh số từ 1 đến 7 trong khoảng thời gian 1972-1973. Những ca khúc Trường Kỳ viết lời Việt được in thành từng bản rời phát hành rộng rãi và thu thanh trên các băng nhạc Tình Hồng (thực hiện cùng Nam Lộc 1973), Tình Ca Nhạc Trẻ, Thế Giới Nhạc Trẻ (ca sĩ trình bày gồm: Elvis Phương, Duy Quang, Minh Xuân, Minh Phúc, Thanh Lan, Julie, Thanh Mai, Paolo...) Được đón nhận nhiều nhất là các bản: Tình Yêu Trong Đời (Sealed With A Kiss), Rồi Mai Đây (Lo Mucho Te Quiero), Thú Yêu Thương (The Godfather), Khi Ta Hai Mươi (All I Have To Do Is Dream), Thương Nhớ Trong Mưa (The Rhythm Of The Rain), Mùa Tình Yêu (Le Temps De L’Amour), Mùa Đông Em Đi (I Started A Joke), Điện Thoại Tới Anh (Téléphone-moi)... Kể từ Tình Ca Nhạc Trẻ 2, còn có thêm những nhạc phẩm được gọi là Việt Hóa của nhiều nhạc sĩ khác như : Phạm Duy, Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang, Nam Lộc, Tuấn Dũng, Trung Hành, Cao Giảng, vv...Ngoài ra anh còn viết lời cho một số sáng tác của Tùng Giang như : Biết Đến Thuở Nào, Cuộc Tình Xưa, Ta Hôn Nhau Trong Công Viên, vv…
Danh tiếng của Trường Kỳ mỗi ngày một nổi, bởi cùng với âm nhạc, anh biết chen vào lãnh vực báo chí. Nghề làm ký giả, tưởng chỉ đóng vai trò phụ nhưng chính cái viết lách tùy hứng này đã giúp tên tuổi Trường Kỳ đứng vững đến hôm nay. Cũng như nhiều bạn trẻ sính văn nghệ, Trường Kỳ làm thơ và thành lập thi văn đoàn lấy tên Hội Hoa Cương. Không rõ anh chơi thơ được bao lâu. Bài Xuân Nhớ Em của anh đăng trên nhật báo Ngôn Luận, có thể nói lên được tuổi thọ của thi văn đoàn do anh lập
Nghề thơ không thành công nhưng nghề viết phóng sự của Trường Kỳ sớm có đất dụng võ. Anh dùng tên Johnny Kỳ cho một số bài phóng sự âm nhạc của mình trên báo Kịch Ảnh từ năm 1964. Bài viết đương nhiên được ông chủ nhiệm Quốc Phong trả nhuận bút hẳn hoi. Về sau Trường Kỳ còn được mời viết ở tuần báo Màn Ảnh, rồi phụ trách trang nhạc trẻ trên nhật báo Sống của nhà văn Chu Tử.. Phóng sự hoặc những bài viết có liên quan đến âm nhạc của Trường Kỳ còn xuất hiện trên nhiều tuần báo, nhật báo tại thủ đô như Tinh Hoa, Chính Luận, Tiền Tuyến...Phóng sự ăn khách của Trường Kỳ lúc bấy giờ có tên “36 Kiểu Cua Đào” đi trên tạp chí Thứ Tư.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của nhạc trẻ, những trang báo của người khác chủ trương có phần không đủ chỗ cho Trường Kỳ múa bút, nên anh đã bàn với một số bạn chí thân để khai sinh một vùng đất mới, chuyên đề về âm nhạc. Báo của Trường Kỳ mang tên Nhạc Trẻ, khổ nhỏ như tạp chí, 100 trang, phát hành 300 số. Báo có tòa soạn hẳn hoi trên đường Trương Công Định. Nhưng rất tiếc, tiền rửa hình, tiền đánh máy, tiền đóng gáy, dán bìa....chỉ cho phép Nhạc Trẻ trình diện một lần duy nhất. Trong nghiệp viết của Trường Kỳ, ngoài phóng sự anh còn viết tiểu thuyết. Cuốn Tuổi Choai Choai của anh được Jo Marcel và chính anh cùng Nam Lộc góp tay thực hiện thành phim Vết Chân Hoang, một phim màu scope khá thành công. Trước phim này, Trường Kỳ và Jo Marcel cũng thực hiện được phim Thế Giới Nhạc Trẻ.
Đời sinh hoạt nghệ thuật của Trường Kỳ quả thật sôi động, phong phú, nhờ đó anh tiếp xúc, quen biết với nhiều nhân vật trong nhiều lãnh vực văn học, nghệ thuật, quân sự, chính trị như Mai Thảo, Duyên Anh, Chu Tử, Phạm Duy, Viên Linh, Lê Hoàng Hoa, Phạm Huấn, Đỗ Kiến Nhiễu, Nguyễn Cao Kỳ...Nhưng tuyệt vời nhất, đây là cơ hội ngàn vàng tạo cho gia tài tình nhân của anh trở nên vô cùng giàu có. Khởi từ tuổi mười ba, Trường Kỳ đã biết cái thú của nhà thơ Nguyễn Bính dù không có hàng dậu mùng tơi nào nơi anh cư ngụ. Anh cũng sớm nhận ra mùi hương của một thịt da, được cấu tạo có chút khác biệt với phái nam, khi anh được một cô giáo ôm tiễn chân sang trường khác. Tình yêu nằm trong khoảnh khắc dậy thì thật là tuyệt vời. Trường Kỳ đã ghi lại giúp chúng ta những náo nức, rạo rực một thời, rất tinh tế, thành thật:
Trước năm 1975, Trường Kỳ ngoài việc phát hành nhạc bản, tuyển tập nhạc trẻ, anh còn cho in các tập phóng sự: Mặt Trái Của Nữ Sinh Sài Gòn (1968), 36 Kiểu Cua Đào (1969), Tuổi Choai Choai (phóng sự tiểu thuyết, 1971).Chỉ cần đọc tên sách, chúng ta đã có thể biết những cuốn sách của Trường Kỳ rất ăn khách. Anh đánh hơi thật rõ thị hiếu của lớp trẻ thành phố, đánh những phát trúng ngay mục tiêu. Tuổi nữ sinh là thời kỳ tinh hoa nhất của mọi người thiếu nữ, ở đó còn đủ e lệ, thẹn thùng, còn đủ những ngây thơ dễ thương và cũng có cả những ranh mãnh lẫn những táo bạo khi bắt đầu biết nhớ nhung biết yêu thương, Đó là lúc mọi người thiếu nữ đều xinh đẹp, lộng lẫy bởi vì:
Năm 2002 tại hải ngoại, Trường Kỳ cho xuất bản tập bút ký ưng ý nhất của anh, cuốn Một Thời Nhạc Trẻ. Sách dày 384 trang bìa mầu được trình bày bởi Lê Phan Lân, một giọng ca tài tử rất được mến mộ tại Montréal. Một Thời Nhạc Trẻ được chia làm 4 chương. Mỗi chương mang một tên riêng. Chương 1: Một Thuở Ham Vui. Chương hai: Một Thời Nhạc Trẻ. Chương ba: Những Ngày Tháng Hippy. Chương kết: Một Chốn Bồng Lai.
Danh từ Nhạc Trẻ cũng do chính Trường Kỳ đề nghị đưa ra dùng thay cho tên gọi Nhạc Kích Động, hơi gần với bạo động. Nhạc Trẻ đem lại không khí tươi vui, hoạt náo, năng động. Nhưng với mắt nhìn của xã hội, nhất là trong giai đoạn có máu thịt đổ ra, tan nát từng giây phút tại các mặt trận không xa Sài Gòn bao nhiêu, không thể không có những phê phán. Phong trào nhạc trẻ Sài Gòn, theo tôi, là một hình thức phản chiến cao cấp nhất, và đã có kết quả khả quan. Cũng là thủ đô trong thời chiến, nhưng Hà Nội khác hẳn. Cái hơn của miền Nam là tự do. Nhưng những bước chân quá đà của những người thụ hưởng tự do nhiều khi rất tai hại, và tai hại đã xảy ra thật. Sự thất thủ của Sài Gòn một phần do giới lãnh đạo, nhưng quần chúng không thể hoàn toàn phủ nhận sự góp tay gián tiếp của mình. Trường Kỳ một thanh niên yêu âm nhạc, yêu tự do và đương nhiên rất cần thiết hòa bình, anh theo đuổi, thực hiện tận tình nguyện vọng, sở thích của anh đó là một ưu điểm. Nhưng không thể hoàn toàn biện minh cho anh trước những nghi ngờ. chỉ trích của một số nhân vật chính quyền lẫn báo giới. Trong Một Thời Nhạc Trẻ, Trường Kỳ đã nhắc lại đủ những điều này, thật đáng quí. Cũng phải cảm ơn Trường Kỳ cho chúng ta biết tường tận những khởi đầu của những tên tuổi trong làng nhạc Việt Nam, khởi đi từ thập niên 60, 70 như Thanh Lan, Trung Hành, Duy Quang, Ngọc Bích, Tuấn Ngọc, Đức Huy, Nam Lộc, Tùng Giang vv...
Vĩnh Biệt ông vua nhạc trẻ “Trường Kỳ”
Trời California sáng nay mây sầu giăng khắp chốn và mưa rơi tầm tã.
Lê Xuân Trường
22 tháng 3 năm 2009 ***** *****
Một bài viết ngắn của tôi về Nhạc Lời Việt Trường Kỳ
http://hoctroviet.blogspot.com/2011/03/nhung-bai-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-cua.html Trường Kỳ
***
Tôi, Kỳ Phát, và Nam Lộc đếu bàng hoàng khi nghe tin. Tôi liền gọi điện thoại về Việt Nam cho anh Tiến Chỉnh (tay bass guitar của ban nhạc Strawberry Four, cũng là người bạn rất thân với Trường Kỳ để nhắn giùm chị Huyền là hiền thê của anh trở về Canda gấp, để lo công việc.) Tôi vẫn còn bàng hoàng và thương tiếc người anh thân yêu của tôi mà đã bao lần cùng anh dấn thân vào con đường viết lách, và say mê âm nhạc đến tột độ. Nhân đây cho các bạn biết thêm về Trường Kỳ. tại Sao Trường Kỳ được mệnh danh là ông vua Nhạc Trẻ.
Trường Kỳ Ra đời ngày 29 tháng 3 năm 1946 tại Hà Nội, con của ông Vũ Ngọc Trân và bà Phạm Thị Trọng Yêm, được người bác vốn là soạn giả nhiều bộ sách giáo khoa Pháp văn, không tức cảnh sinh tình, mà vịn vào chữ nghĩa phổ biến của thời đại “trường kỳ kháng chiến” đặt cho cái tên có tuổi thọ đáng nể: Trường Kỳ.
Trường Kỳ đã sớm mất tình mẫu tử. Ngay trong ngày ngấp nghé ba tháng tuổi, cuộc tình giữa cha mẹ đã đổ vở, Trường Kỳ được đưa về làng Đồng Nghĩa tỉnh Nam Định cho ông bà nội nuôi dưỡng. Sáu năm ấu thơ đi qua, thằng cháu đích tôn, chưa hề dám đuổi một con ruồi, sống trong tình thương yêu của bố, của ông bà nội thật ấm áp, tuyệt vời. Vườn rau, chái hiên, vuông sân, bờ ao, gốc đa...thay nhau rủ rê, dìu dắt cậu đi khắp thôn, khắp làng, đi dần đến những ước mơ chập chờn, chưa định hình trong đầu óc. Cứ thế mà anh lớn lên cho đến ngày được trở về Hà Nội, được đưa vào trường Puginier và ở đây cùng văn hoá Pháp cho đến lớp 11è, năm 1954.
Song song với các trò chơi sưu tầm tem thư, sưu tập truyện bằng hình mua từ hội quán Coeur Vaillant, Trường Kỳ chơi âm nhạc bằng cách mở radio nghe đều đặn các chương trình Tuyển Lựa Ca Sĩ của đài Phát Thanh Sài Gòn. Âm nhạc từ đó, từng bước đi vào cuộc sống Trường Kỳ. Anh đã được các ông chú, bà cô đưa vào phòng trà Anh Vũ, đến rạp Kim Chung và không bỏ sót những chương trình Đại Nhạc Hội. Trường Kỳ sớm biết mê những tiếng đàn, tiếng trống của Khánh Băng, Phùng Trọng, ban nhạc The Blue Jean Boys...Cuối cùng, thời kỳ trực tiếp chạm tay vào âm nhạc cũng đến. Trường Kỳ theo học đàn accordéon từ nhạc sĩ Vũ Lung. Với cái đàn khá nặng trước lồng ngực hẹp của thân thể nhỏ con, nhưng Trường Kỳ đã cùng người bạn mới này, lần lượt đi qua các ca khúc Thoi Tơ, Dừng Bước Giang Hồ, Cumparsita, La Paloma, Come Back To Sorrrento, Blue Danube....Những tên tuổi trong giới nghệ sĩ chưa hề gặp cũng cảm thấy gần gũi hơn, nào là Phạm Duy, Văn Phụng, La Hối, Nguyễn Hiền, Canh Thân, nào là Thái Thanh, Thái Hằng, Mộc Lan, Hà Thanh, Châu Hà, Kim Tước... Giữa giai đoạn chăm chỉ rèn luyện, Trường Kỳ bỗng tình cờ có cơ hội biểu diễn lần đầu tiên trong đời. Bục diễn của anh nằm trong sân trường Lạc Hồng. Khán giả của anh là vô số học sinh cấp tiểu học cùng đầy đủ mẹ cha của họ. Trường Kỳ đã trổ tài cùng với giọng ca Phương Lan, Quốc Thắng, Kim Chi...Cuộc biểu diễn được chính Trường Kỳ cho là non tay, nhưng phần thưởng anh nhận khá lớn, đó là sự quen biết giữa anh và thần đồng Phương Lan, sau mấy lời ngợi khen của cô ca sĩ tí hon này.(Phương Lan tên thật Võ Thị Nhi).
Từ một cậu bé nhút nhát, thường “cúi gầm mặt khi đối diện với người lạ” thằng “Kỳ Đen” rủ thằng “Kỳ Lùn” tiến đến những biệt danh “Vua Nhạc Trẻ”, “Lãnh Tụ Hippy” không phải là những tình cờ ngẫu nhiên. Đó là cả một quá trình sinh hoạt văn nghệ với nhiều bộ môn, thơ, truyện, âm nhạc... rất phong phú của Trường Kỳ. Nhưng âm nhạc, tài nghệ tổ chức, lẫn ký giả văn nghệ mới chính là những trọng điểm giúp cho cậu thanh niên không lớn con, không xấu trai này thành danh.
“Với bản tính hiền hòa, cởi mở, năng động, Trường Kỳ biết cách kết nối thành công những tài năng có chung một một chí hướng, một sự yêu mê nghệ thuật lại với nhau. Trong gần suốt hai thập niên 60, 70 anh cùng một số bạn trong giới nghệ sĩ như Jo Marcel, Tùng Giang, Nam Lộc, vv…đã đứng ra tổ chức thành công nhiều cuộc trình diễn ca nhạc qui mô tại những địa điểm rộng lớn ở thủ đô Sài Gòn. Bước khởi đầu vào sân chơi âm nhạc rộng lớn của Trường Kỳ và các bạn chính thức mở màn trong năm 1964. Thị dân SàiGòn, nhất là lớp trẻ của một thời tự do hẳn khó quên những: Đại Nhạc Hội Nhạc Trẻ Taberd liên tiếp từ năm 64 đến năm 1973 ( trừ năm 68 ), Đại hội Nhạc Trẻ Quốc Tế Ngoài Trời 1971 (tại sân Hoa Lư), Đại Hội Nhạc Trẻ Thảo Cầm Viên từ 71 đến 74,....Ngoài ra còn các chương trình nhạc trẻ hàng tuần “Hippies À Go Go” được tổ chức tại những vũ trường ỏ Sài Gòn từ năm 67 đến 71 như : Chez Jo Marcel , Queen Bee và Ritz”
Gia tài ca khúc nhạc trẻ thời bấy giờ tại Việt Nam còn khá nghèo nàn so với sự ra đời thật náo nhiệt của những ban, nhóm chơi nhạc kích động như: (danh xưng này được đổi thành Nhạc Trẻ do chính Trường Kỳ nêu ra và được dùng từ năm 1965): Les Fanatiques, Les Vampires, The Teddy Bears, The Daltons, Les Faucons Noirs, Les Tridents, The Rockin’ Stars, The Black Caps, The Hard Stones, The Dreamers, The Spotlights, Phượng Hoàng, The Strawberry Four, The Bee Gees, The Apple Three, The Cats’ Trio, The Hammers, The Dreamers, The Crazy Dogs, The Teen Sound, The Peanuts Company, The Enterprise, The New Flintsones Corporation, The Hard Stones, The Fighters, The Starling Show, The Blue Stars, The Free Ones, vv…Vì lẽ này, Trường Kỳ liền xắn tay áo chuyển ca khúc ngoại quốc thành lời Việt, đồng thời cho phát hành những bộ sưu tậpTình Ca Nhạc Trẻ đánh số từ 1 đến 7 trong khoảng thời gian 1972-1973. Những ca khúc Trường Kỳ viết lời Việt được in thành từng bản rời phát hành rộng rãi và thu thanh trên các băng nhạc Tình Hồng (thực hiện cùng Nam Lộc 1973), Tình Ca Nhạc Trẻ, Thế Giới Nhạc Trẻ (ca sĩ trình bày gồm: Elvis Phương, Duy Quang, Minh Xuân, Minh Phúc, Thanh Lan, Julie, Thanh Mai, Paolo...) Được đón nhận nhiều nhất là các bản: Tình Yêu Trong Đời (Sealed With A Kiss), Rồi Mai Đây (Lo Mucho Te Quiero), Thú Yêu Thương (The Godfather), Khi Ta Hai Mươi (All I Have To Do Is Dream), Thương Nhớ Trong Mưa (The Rhythm Of The Rain), Mùa Tình Yêu (Le Temps De L’Amour), Mùa Đông Em Đi (I Started A Joke), Điện Thoại Tới Anh (Téléphone-moi)... Kể từ Tình Ca Nhạc Trẻ 2, còn có thêm những nhạc phẩm được gọi là Việt Hóa của nhiều nhạc sĩ khác như : Phạm Duy, Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang, Nam Lộc, Tuấn Dũng, Trung Hành, Cao Giảng, vv...Ngoài ra anh còn viết lời cho một số sáng tác của Tùng Giang như : Biết Đến Thuở Nào, Cuộc Tình Xưa, Ta Hôn Nhau Trong Công Viên, vv…
Danh tiếng của Trường Kỳ mỗi ngày một nổi, bởi cùng với âm nhạc, anh biết chen vào lãnh vực báo chí. Nghề làm ký giả, tưởng chỉ đóng vai trò phụ nhưng chính cái viết lách tùy hứng này đã giúp tên tuổi Trường Kỳ đứng vững đến hôm nay. Cũng như nhiều bạn trẻ sính văn nghệ, Trường Kỳ làm thơ và thành lập thi văn đoàn lấy tên Hội Hoa Cương. Không rõ anh chơi thơ được bao lâu. Bài Xuân Nhớ Em của anh đăng trên nhật báo Ngôn Luận, có thể nói lên được tuổi thọ của thi văn đoàn do anh lập
Nghề thơ không thành công nhưng nghề viết phóng sự của Trường Kỳ sớm có đất dụng võ. Anh dùng tên Johnny Kỳ cho một số bài phóng sự âm nhạc của mình trên báo Kịch Ảnh từ năm 1964. Bài viết đương nhiên được ông chủ nhiệm Quốc Phong trả nhuận bút hẳn hoi. Về sau Trường Kỳ còn được mời viết ở tuần báo Màn Ảnh, rồi phụ trách trang nhạc trẻ trên nhật báo Sống của nhà văn Chu Tử.. Phóng sự hoặc những bài viết có liên quan đến âm nhạc của Trường Kỳ còn xuất hiện trên nhiều tuần báo, nhật báo tại thủ đô như Tinh Hoa, Chính Luận, Tiền Tuyến...Phóng sự ăn khách của Trường Kỳ lúc bấy giờ có tên “36 Kiểu Cua Đào” đi trên tạp chí Thứ Tư.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của nhạc trẻ, những trang báo của người khác chủ trương có phần không đủ chỗ cho Trường Kỳ múa bút, nên anh đã bàn với một số bạn chí thân để khai sinh một vùng đất mới, chuyên đề về âm nhạc. Báo của Trường Kỳ mang tên Nhạc Trẻ, khổ nhỏ như tạp chí, 100 trang, phát hành 300 số. Báo có tòa soạn hẳn hoi trên đường Trương Công Định. Nhưng rất tiếc, tiền rửa hình, tiền đánh máy, tiền đóng gáy, dán bìa....chỉ cho phép Nhạc Trẻ trình diện một lần duy nhất. Trong nghiệp viết của Trường Kỳ, ngoài phóng sự anh còn viết tiểu thuyết. Cuốn Tuổi Choai Choai của anh được Jo Marcel và chính anh cùng Nam Lộc góp tay thực hiện thành phim Vết Chân Hoang, một phim màu scope khá thành công. Trước phim này, Trường Kỳ và Jo Marcel cũng thực hiện được phim Thế Giới Nhạc Trẻ.
Đời sinh hoạt nghệ thuật của Trường Kỳ quả thật sôi động, phong phú, nhờ đó anh tiếp xúc, quen biết với nhiều nhân vật trong nhiều lãnh vực văn học, nghệ thuật, quân sự, chính trị như Mai Thảo, Duyên Anh, Chu Tử, Phạm Duy, Viên Linh, Lê Hoàng Hoa, Phạm Huấn, Đỗ Kiến Nhiễu, Nguyễn Cao Kỳ...Nhưng tuyệt vời nhất, đây là cơ hội ngàn vàng tạo cho gia tài tình nhân của anh trở nên vô cùng giàu có. Khởi từ tuổi mười ba, Trường Kỳ đã biết cái thú của nhà thơ Nguyễn Bính dù không có hàng dậu mùng tơi nào nơi anh cư ngụ. Anh cũng sớm nhận ra mùi hương của một thịt da, được cấu tạo có chút khác biệt với phái nam, khi anh được một cô giáo ôm tiễn chân sang trường khác. Tình yêu nằm trong khoảnh khắc dậy thì thật là tuyệt vời. Trường Kỳ đã ghi lại giúp chúng ta những náo nức, rạo rực một thời, rất tinh tế, thành thật:
Trước năm 1975, Trường Kỳ ngoài việc phát hành nhạc bản, tuyển tập nhạc trẻ, anh còn cho in các tập phóng sự: Mặt Trái Của Nữ Sinh Sài Gòn (1968), 36 Kiểu Cua Đào (1969), Tuổi Choai Choai (phóng sự tiểu thuyết, 1971).Chỉ cần đọc tên sách, chúng ta đã có thể biết những cuốn sách của Trường Kỳ rất ăn khách. Anh đánh hơi thật rõ thị hiếu của lớp trẻ thành phố, đánh những phát trúng ngay mục tiêu. Tuổi nữ sinh là thời kỳ tinh hoa nhất của mọi người thiếu nữ, ở đó còn đủ e lệ, thẹn thùng, còn đủ những ngây thơ dễ thương và cũng có cả những ranh mãnh lẫn những táo bạo khi bắt đầu biết nhớ nhung biết yêu thương, Đó là lúc mọi người thiếu nữ đều xinh đẹp, lộng lẫy bởi vì:
Năm 2002 tại hải ngoại, Trường Kỳ cho xuất bản tập bút ký ưng ý nhất của anh, cuốn Một Thời Nhạc Trẻ. Sách dày 384 trang bìa mầu được trình bày bởi Lê Phan Lân, một giọng ca tài tử rất được mến mộ tại Montréal. Một Thời Nhạc Trẻ được chia làm 4 chương. Mỗi chương mang một tên riêng. Chương 1: Một Thuở Ham Vui. Chương hai: Một Thời Nhạc Trẻ. Chương ba: Những Ngày Tháng Hippy. Chương kết: Một Chốn Bồng Lai.
Danh từ Nhạc Trẻ cũng do chính Trường Kỳ đề nghị đưa ra dùng thay cho tên gọi Nhạc Kích Động, hơi gần với bạo động. Nhạc Trẻ đem lại không khí tươi vui, hoạt náo, năng động. Nhưng với mắt nhìn của xã hội, nhất là trong giai đoạn có máu thịt đổ ra, tan nát từng giây phút tại các mặt trận không xa Sài Gòn bao nhiêu, không thể không có những phê phán. Phong trào nhạc trẻ Sài Gòn, theo tôi, là một hình thức phản chiến cao cấp nhất, và đã có kết quả khả quan. Cũng là thủ đô trong thời chiến, nhưng Hà Nội khác hẳn. Cái hơn của miền Nam là tự do. Nhưng những bước chân quá đà của những người thụ hưởng tự do nhiều khi rất tai hại, và tai hại đã xảy ra thật. Sự thất thủ của Sài Gòn một phần do giới lãnh đạo, nhưng quần chúng không thể hoàn toàn phủ nhận sự góp tay gián tiếp của mình. Trường Kỳ một thanh niên yêu âm nhạc, yêu tự do và đương nhiên rất cần thiết hòa bình, anh theo đuổi, thực hiện tận tình nguyện vọng, sở thích của anh đó là một ưu điểm. Nhưng không thể hoàn toàn biện minh cho anh trước những nghi ngờ. chỉ trích của một số nhân vật chính quyền lẫn báo giới. Trong Một Thời Nhạc Trẻ, Trường Kỳ đã nhắc lại đủ những điều này, thật đáng quí. Cũng phải cảm ơn Trường Kỳ cho chúng ta biết tường tận những khởi đầu của những tên tuổi trong làng nhạc Việt Nam, khởi đi từ thập niên 60, 70 như Thanh Lan, Trung Hành, Duy Quang, Ngọc Bích, Tuấn Ngọc, Đức Huy, Nam Lộc, Tùng Giang vv...
Vĩnh Biệt ông vua nhạc trẻ “Trường Kỳ”
Trời California sáng nay mây sầu giăng khắp chốn và mưa rơi tầm tã.
Lê Xuân Trường
22 tháng 3 năm 2009 ***** *****
Một bài viết ngắn của tôi về Nhạc Lời Việt Trường Kỳ
http://hoctroviet.blogspot.com/2011/03/nhung-bai-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-cua.html Trường Kỳ
***
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
